ĐÂU LÀ CHÂN LÝ


QUYỂN I

LỜI NÓI ĐẦU

          Từ ngàn xưa, tại hai Châu Lémurie và Atlantide,[1] Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa trong những Đạo viện lớn đều có dạy một cách kín đáo khoa Triết Học Bí Truyền cho những tín đồ đã được chọn lựa gắt gao về Hạnh Kiểm, để đào tạo những vị Thánh Nhân, Hiền Triết sau thành những Đấng Cứu Thế.
          Khoa này giải rành rẽ về vũ trụ nhân sinh, xin kể vài điểm chính như sau đây:
          1    Lý do sinh hóa Thái Dương Hệ này.
          2 – Cội rễ con người. Vì lý do nào con người sinh ra tại cõi Trần?
          3    Mục đích định sẵn cho con người trong Thái Dương Hệ này.
          4    Phương pháp biến đổi con người thành một vị Siêu Phàm trước ngày giờ đã định sẵn.
          Những vị đầu tiên đem khoa này ra dạy là những Đấng Cao Cả đã dự phần vào việc thành lập Thái Dương Hệ này. Vì thế không bao giờ có sự sai lầm. Từ đó mối Đạo truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ kia cho tới ngày nay và mai sau nữa. Dù cho tới một ngày kia, đúng ngày giờ Thái Dương Hệ này tan rã, mối Đạo vẫn còn tồn tại với thời gian.
          Ngày nay các tôn giáo lớn đã mất Khoa Bí Truyền này gọi là Khoa Mật, chỉ còn Khoa Công Truyền gọi là Hiển mà thôi. Nhưng nó lại nhuộm màu ích kỷ, chia rẽ. Ấy tại con người quá say mê vật chất, quí trọng quá mức danh vọng, tiền tài, quyền thế, quên mất phần tinh thần, không lo trau giồi tâm tánh cho thật tốt đặng thọ lãnh Chơn truyền. Con người bằng lòng với số phận kiếp này, chứ không màng tới kiếp sau do nhân quả định đoạt.
          Tuy nhiên, Cơ Trời đã đinh sẵn, qua năm 1975, một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên Tinh Thần gọi là kỷ nguyên Huyền bí học sẽ mở màn.
          Vì vậy gần cuối thế kỷ 19, năm 1875 Thiên Đình mới cho phép đem vài Chương đầu của Khoa Triết  Học Bí Truyền phổ biến khắp thế gian đặng thức tỉnh  quần chúng.
          Một bức màn vô minh vén lên, thiên hạ sẽ thấy thêm một chút ánh sáng hơn trước.
          Con người phải tự biết mình là ai? Tại sao sinh ra ở cõi Trần và phải làm những điều gì cho hợp với Cơ Tiến Hóa cứ thúc đẩy con người đi tới mãi, chứ không bao giờ lùi lại được.
          Tất cả những quyển tôi viết ra đều theo Khoa Minh Triết Cổ Truyền này. Thiết tưởng trong kỷ nguyên mới này nên làm sống lại Tứ Diệu Đế và Đạo Bát Chánh [2] là căn bản của Phật Pháp cả ngàn năm nay đã bị lãng quên vì nước xa nguồn càng ngày càng hóa ra đục không còn được trong trẻo như xưa.
          Vì lý do nào?
          Nên biết rằng: Phật bỏ xác chưa được một tuần (có chỗ nói khoảng mười ngày) thì mười tám Phái đã nổi lên công kích lẫn nhau. Phái nào cũng nói rằng mình đã thọ lãnh được Chơn truyền.
          Thế nên mới có hai lần Phật Giáo Hội Nghị đầu tiên, cách nhau hai mươi năm. Tới kỳ Kết tập lần thứ nhì, các vị Đệ tử lớn đều từ trần hết.
          Từ lúc Đức Phật nhập Niết Bàn cho tới khoảng 240 năm sau, Phật  giáo chỉ được truyền khẩu thôi. Cứ Thầy truyền trò nối, từ thế hệ này qua thế hệ kia.
          Mãi tới đời Vua A Dục (Asoka), sau khi quy y rồi, vua mới cho lập Phật Giáo Hội Nghị lần thứ ba khoảng 244 hay 242 trước Tây lịch kỷ nguyên đặng thống nhất Phật giáo.
          Người ta duyệt lại ba Tạng Kinh, sửa đổi nhiều chỗ rồi mới viết ra thành sách.
          Từ đó Kinh sách Phật giáo mới phát triển và Phật giáo chia ra làm hai phái: Đại Thừa và Tiểu Thừa.
          Trong vòng 240 năm có không biết bao nhiêu chuyện thần thoại hoang tưởng, những tín ngưỡng dị đoan pha lẫn vào Kinh sách Phật rồi truyền đến ngày nay và vì thế mới có quyển Kinh này phản đối quyển Kinh kia. Nếu không được Chơn truyền, chưa mở được trực giác thì không thể nào phân biện được cái nào đúng với Chân lý, còn cái nào phải loại ra ngoài.
          Chắc chắn trong quyển Đâu Là Chân Lý có nhiều đoạn, nếu không phải là hầu hết, không hợp với những bạn nào xưa nay đã quen thuộc với Kinh kệ Công truyền tụng niệm hàng ngày. Có lẽ chúng cũng còn làm phật ý quí bạn đó nữa. Nhưng không có chi khó khăn. Đoạn nào quí bạn chấp nhận được thì cứ đọc, còn chỗ nào quí bạn cho là kỳ lạ thì để qua một bên. Vài ngày hay vài tháng sau, mở ra xem lại, coi có chút ánh sáng nào hiện ra không?
          Trước khi phê phán, quí bạn nên suy nghĩ kỹ lưỡng và sâu xa vì trong mọi việc đều có lý cao và lý thấp.
          Luôn luôn Chân lý hiện ra nhiều mặt, ở mỗi thời đại, một mặt khác, tùy theo trình độ tiến hóa của dân chúng.
          Chân lý giống như một ngọn đèn ở trong cái lồng đèn có bốn mặt và bốn tấm kính màu xanh, đỏ, vàng, tím. Ngọn đèn hiện ra với màu đỏ, hoặc tím, hoặc vàng, hoặc xanh, tùy theo vị trí của người xem.
          Người học Đạo là người tìm ngọn đèn chứ không phải đứng xem tấm kính của lồng đèn rồi cho bạn mình thấy sai, còn mình thì thấy đúng sự thật.
          Ở cõi Trần, tất cả đều tương đối, tới cõi Niết Bàn mới là tuyệt đối, không còn đen, không còn trắng, không còn tối, không còn sáng, không dữ, không lành.
          Trong quyển này, tôi chỉ trình bày ý kiến của tôi về vài câu chuyện ghi chép trong Kinh sách Phật phổ biến bấy lâu nay mà tôi cho rằng vốn của người đời sau bịa đặt chứ không có thật, chúng hạ danh giá Đấng Chí Tôn xuống thấp, thay vì nâng nó lên cao, như ý họ lầm tưởng.
          Tôi thấy trong Kinh này nói: Đức Phật dạy như vầy. Còn trong Kinh kia cho rằng: Ông Sư này, ông Sư kia làm những điều này, những việc nọ.
          Tôi xin thanh minh rằng: Tôi không tin rằng mấy điều đó có thật vì  tác giả mấy quyển Kinh đó không phải sinh đồng thời với Đức Phật hay là mấy ông Sư đó nên biết Đức Phật hay mấy ông Sư đó có nói hay có làm như vậy. Họ chỉ nghe truyền thuyết rồi viết ra theo ý nghĩ của họ và thêm bớt rất nhiều.
          Nhưng trong khi nói cảm tưởng của tôi, tôi phải kể tên ông Sư X hay ông Sư Y. Đây là sự bất đắc dĩ, xin quí bạn hiểu cho.
          Vì lẽ tôi mới kể ra trước đây, tôi mới đề tên quyển tôi viết: Đâu Là Chân Lý.
          Trong quyển Vô Minh tôi đã lập lại một cách vắn tắt và rõ ràng những điều tôi đã viết trong mấy quyển trước, bởi vì chúng vẫn liên quan với nhau và rất cần thiết cho sự hiểu biết của độc giả, nhất là cho bạn nào mới xem quyển này chứ chưa thấy mấy quyển đó.
          Trong quyển Giác Ngộ, dưới vài bài có những sự nhận xét trùng với nhau vì lẽ mấy bài này liên quan với nhau và phải có những sự nhận xét như thế mới hiểu rõ.
          Xin quí bạn lượng thứ.
          Người học Đạo phải có đức tin, nhưng đức tin này là đức tin sáng suốt chứ không phải là đức tin mù quáng.
          Phải phá tan những bức màn vô minh che lấp Chân lý. Những bức màn đó là sự mê tín dị đoan. Xin quí bạn đọc bài: Phải suy nghĩ sâu xa khi đọc những Kinh sách Phật.
          Trong đó tôi có chép những lời của Phật dạy những người Kalama và đoạn: Đặc sắc của Phật giáo của Tỳ Khưu Jagadish, nói về ba Tạng Kinh. Chúng ta nên nghĩ rằng dù cho ba Tạng Kinh đi nữa, chúng được chép ra khoảng 240 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn. Làm sao dám chắc chúng chứa toàn là Chân lý mà không có sự thêm bớt của đời sau.
          Ngoài ba Tạng Kinh, còn những Kinh của đời sau đặt ra. Phải đề phòng vì nhiều quyển chứa đựng nhiều chuyện hoang đường, dị đoan làm độc giả thành ra mê tín và tin theo. Câu nào cũng cho là Phật ngôn mà sự thật là của họ đặt ra hay là nghe theo truyền thuyết rồi viết lại.
          Họ không ngờ rằng: nếu họ thuật lại không đúng với sự thật thì họ phạm hai tội: vu cáo Phật và vọng ngữ vì nói sai ngoa hại nhiều thế hệ sau nhắm mắt tin theo, không phân biệt được vàng, thau, ngọc, đá, mà sự thật Kinh kệ không khác nào những tấm bảng dựng bên lề đường để chỉ cho khách lữ hành phải theo lối nào ngay thẳng đặng mau tới chỗ và tránh khỏi hầm hố, chông gai và những cạm bẫy dựng lên dọc đường.
          Không phải ngồi tụng kinh mãi mà được Đắc Đạo làm một vị Siêu Phàm. Nhưng phải tụng kinh đặng ghi nhớ vào Trí những việc phải làm bởi vì còn không biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi và thực hành. Trước   khi và sau khi được bước vào cửa Đạo, từ kiếp này qua kiếp kia.
          Tụng Kinh còn một sự lợi ích khác nữa là rải những tư tưởng tốt lành lên không gian đặng giúp ích cho những người ở chung quanh trước nhất. Tuy nhiên, phải được những Kinh do những vị đã vào hàng Tứ Thánh viết ra chứ không phải những Kinh tầm thường, tác giả chưa phải là một vị đệ tử của Chơn Sư.
          Tôi viết quyển Đâu Là Chân Lý với hai mục đích:
          Mục đích thứ nhất: nhắc nhở quí bạn đừng quên rằng: Thật con người là Chơn Thần hay nói một cách dễ hiểu: Con người là Linh Hồn ở trong xác thân. Xác thân không phải thật là con người. Nó là một con ngựa để cho con người cỡi để đi qua một quãng đường đời. Tới một ngày kia ta sẽ bỏ nó, rồi kiếp sau ta có con ngựa mới khác. Tại con người ngỡ xác thân là mình nên đồng hóa với nó. Muôn ngàn tội lỗi đều do sự lầm lạc này gây ra.
          Nên biết con người sinh ra ở cõi Trần đặng học hỏi Cơ Tiến Hóa hầu đi mau tới bậc Siêu Phàm là mục đích đã định sẵn cho con người trong Thái Dương Hệ này.
          Mục đích thứ nhì: giúp quí bạn thấy rõ rằng Đạo Bát Chánh là con đường Trung Đạo, nó ở chính giữa thói xa hoa phóng túng và sự tu khổ hạnh. Nó dắt hành giả đi tới cõi Niết Bàn thành một vị Siêu Phàm thoát đoạ luân hồi. Ít ai biết được mục đích cao siêu của nó, cứ đinh ninh rằng nó chỉ để khuyên người ta làm những việc lành, bỏ những việc dữ, chứ không có cái gì mới lạ. Nếu mục đích rất tầm thường thì tại sao Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại Sarnath trong vườn Lộc Dã Viên mà được gọi là Phật Chuyển Pháp Luân?
          Quí bạn suy nghĩ thì rõ. Phải sống với Đạo Bát Chánh thì mới thấy giá trị của nó lớn lao là bực nào. Vì theo lời của các vị thành Chánh quả đã nói thì cái hậu quả còn kéo dài tới kiếp sau. Đây có nghĩa là bất cứ là ai cố gắng thực hiện tám lẽ Chánh thì kiếp sau đầu thai lại thì có sẵn những mầm của chúng nó trong mình, chúng nó sẽ phát triển thêm.
          Vậy thì cầu xin những quyển của tôi soạn ra giúp được quí bạn có một quan niệm đúng đắn về những lời Phật dạy thuở xưa, và hiểu được đôi chút về sự liên quan mật thiết giữa con người và vũ trụ, tức là Vũ trụ và Nhân sinh.
Lành thay! Lành thay!
Tự giác nhi giác tha!
Tự do tín ngưỡng – Tự do tư tưởng.
Một người Phật tử,
BẠCH LIÊN

PHẦN NHẤT

CHƯƠNG THỨ NHẤT

PHẬT GIÁO CÔNG TRUYỀN

 

VÌ LÝ DO NÀO PHẬT LẤY SỰ KHỔ LÀM ĐỀ TÀI THUYẾT  PHÁP VÀ GƯƠNG HY SINH CAO CẢ CỦA NGÀI 
     Đức Phật Thuyết Pháp lần đầu tiên gọi là Chuyển Pháp Luân tại Sarnath (xưa kia Lộc Dã Viên thuộc về Sarnath) cách Ba Nại La khoảng bốn dậm. Ngài giải về SỰ KHỔ – NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ – DIỆT SỰ KHỔ và PHÁP MẦU DIỆT KHỔ.
          Thế thì Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là Tinh hoa của Phật giáo.
          Bây giờ ta hãy tự hỏi: Tại sao Phật lấy Sự Khổ làm đề tài Thuyết Pháp, trong khi có không biết bao nhiêu vấn đề khác rất hữu ích cho nhân loại mà Ngài không đề cập đến. Vì lý do nào? Người đời không một ai biết được điều đó cả.
          Những nhà Đạo học uyên thâm đều biết rằng: Do Luật Nhân Quả, con người gieo giống chi thì gặt giống nấy. Con người làm những việc ích kỷ hại nhân, tàn ác, tà vạy, thì phải lãnh lấy hậu quả không tốt đẹp và bị những sự đau khổ tới hành hạ. Con người tạo lấy xiềng xích buộc trói mình thì phải tự mình tháo gỡ xiềng xích bằng cách thực hành những việc chơn chánh, nhân từ, giúp đỡ những kẻ ở trong cảnh nghèo nàn, khổ cực, đói rét, tùy phương tiện, tùy hoàn cảnh, tùy duyên, tùy phận.
          Vì con người còn Vô minh, chưa tự thức tỉnh cho nên Phật mới chỉ cho con người thấy:
          1 – SỰ KHỔ.
          2 – NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ.
          3 – DIỆT SỰ KHỔ và
          4 – PHÁP MẦU DIỆT KHỔ  ĐẠO BÁT CHÁNH.
          Ngài nhắm vào hai mục đích một lượt:
          Mục đích thứ nhất: Chỉ phương pháp cho con người thoát lần lần ra khỏi vòng nghiệp quả.
          Mục đích thứ nhì: Giúp con người Tiến Hóa mau. Điều sau này thuộc về Huyền Bí Học. Khi sinh viên hay kẻ chí nguyện sống đúng với tám lẽ Chánh, mỗi đức tánh trên mức trung bình một chút thì Chơn Sư thâu nhận làm đệ tử và dạy dỗ. Không bao lâu anh sẽ được vào cửa Đạo. Và chỉ trong cửa Đạo mới có sự giải thích đúng với sự thật: Sự thành lập Thái Dương Hệ này, Mục đích sinh hóa con người trên Dãy Địa Cầu và Phương pháp luyện tập đặng biến đổi con người thành một vị Siêu Phàm trước ngày giờ đã định sẵn trong Thiên Cơ tức là trước khi Dãy Địa Cầu này tan rã. Phải hiểu rõ những lý do Huyền bí mới biết Đạo Bát Chánh quan trọng dường nào.
          Song tiếc thay có nhiều bạn tu hành khinh thường sự rèn luyện tánh tình, vì cho việc đó còn thấp thỏi lắm. Phải có những phép Thần thông như các vị Tiên trong mấy bộ truyện: Phong ThầnPhong Kiếm Xuân Thu, Đông Du Bát Tiên và Tây Du mới thật là cao siêu.
          Có một ông bạn đã hỏi tôi: Có quyển nào cao hơn quyển Dưới Chơn Thầy không? Tôi biết ý anh đó, tôi mới trả lời: Không có. Mặc dù tôi biết rằng quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo dắt sinh viên đi xa hơn quyển Dưới Chơn Thầy, nhưng nói ra cũng vô ích. Người tu hành nên biết rằng: Dù có tài Kinh Thiên, Động Địa, khiến Quỷ, sai Thần, chỉ đá hóa vàng, lấp biển dời non, mà không hội đủ những điều kiện do Luật Trời qui định về Tài và Đức thì không bao giờ Danh Đề Tiên Tịch.
          Đừng ham những quyền năng siêu việt, nếu luyện tập sai phép thì điên khùng. Hãy xem gương anh Brama trong quyển  Đông Phương Huyền Bí tức là Ấn Độ Huyền , trang 50. Anh sắp tắt hơi nếu không có một vị Yoga cao cấp đến cứu anh.
          Chắc chắn là nhờ căn lành kiếp trước của anh chứ không phải ai ai cũng được cứu sống như anh vậy.
          Những phép Thần Thông là cây gươm hai lưỡi, chém người rồi trở lại chém mình. Bởi vì Luật Nhân  Quả không dung tha bất cứ ai dùng thần thông hãm hại kẻ khác.
          Phải nói trắng ra: SỰ TIẾN HÓA THẬT SỰ CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ TIẾN HÓA CỦA TÁNH TÌNH.
          Xin nhắc lại rằng nền tảng của Đạo là Đức Hạnh. Lấy chuyện đời mà nói, nếu ta xây dựng một tòa lầu đài nguy nga tráng lệ trên một nền tảng bấp bênh, không vững chắc thì khi bị một trận giông ùn ùn thổi tới, nó chịu không nổi sức mạnh của những luồng gió cuốn thì sẽ sụp đổ tan tành.
          Những trận bão lòng còn trăm phần lợi hại hơn những trận địa chấn. Người học đạo mà không dập tắt lửa lòng thì sẽ té nặng. Công phu kiếp này sẽ trôi theo dòng nước.
          Ai ham những quyền năng siêu việt nên đọc lời tự thuật của ông Edgar Cayce trong quyển Những Bí Ẩn của Cuộc Đời, trang 34.
          Xưa kia ông là một Cao Tăng trong các Đạo viện của Cổ Ai Cập (Les Pyramides d'Egypte) pháp lực cao cường. Ông đã vấp ngã vì tánh kiêu căng tự phụ và say đắm dục tình. Ông đã đầu thai nhiều kiếp rồi mà chưa đền đủ những tội ác của ông đã làm. Thật là tội nghiệp. Đây là một bài học để cho chúng ta răn mình. Có lẽ ông Edgar Cayce ở vào thời kỳ Đạo giáo Ai Cập đã suy đồi, phần đông các Cao Tăng trong Đạo viện dùng tà thuật để lòe dân chúng và thỏ lòng ham muốn ích kỷ của mình.
          Quyển Idylle du Lotus Blanc có thuật mấy điều đó.
          Xin nhắc lại, năm 75.025 trước Tây lịch kỷ nguyên, tại Châu Atlantide, các Đạo Sĩ ỷ mình tài phép cao cường dùng những quyền năng hãm hại dân lành không cho họ tiến hóa. Trải qua nhiều thời đại, Thiên Đình đã cảnh cáo họ nhiều lần mà họ không ăn năn chừa cải, chứng nào tật nấy.
          Khi không còn thế nào dung tha được nữa nên năm 75.025 trước Tây lịch kỷ nguyên, Thiên Đình mới ra lệnh nhận chìm Châu Atlantide xuống đáy biển đặng tẩy uế quả Địa Cầu. Chỉ trong một đêm thôi, 64 triệu sanh linh phải chôn thây dưới đáy nước. Chỗ Châu Atlantide nằm khi xưa, ngày nay là Đại Tây Dương ầm ầm sóng bủa.
 Thật đúng là:
Có tài đừng cậy chi tài.
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
                                                                               (Nguyễn Du)
          Xe trước gãy, xe sau phải tránh. Nếu xe sau cứ lăn theo vết xe trước thì sẽ sa hầm hố, không tài nào tránh khỏi.
          Các nhà Huyền bí học đều biết rằng những sự hành động của con người từ tư tưởng, ý muốn cho đến lời nói và việc làm, diện mạo và y phục đều có rọi hình lên chất Tiên Thiên Khí Akasa và làm ra những Tiên Thiên Ký Ảnh (Clichés Akasiques). Ngày nào Thái Dương Hệ này tan rã chúng mơi tiêu mất.
          Người có Huệ Nhãn đều thấy chúng nó. Thế nên tất cả những gì xảy ra tại thế gian đều không lọt qua  khỏi mắt các Đấng Chí Tôn cầm cân tội phước, gọi là những Nam Tào, Bắc Đẩu, và các Đấng Cao Cả làm ra Quần Tiên Hội hay Thiên Đình đang cai quản quả Địa Cầu. Tục rằng: Đừng lấy vải thưa che mắt Thánh. Thật đúng vậy.
          Vì vậy, đời sống của chúng ta phải xây dựng trên những Đức hạnh tối cao. Mỗi ngày chúng ta phải đổi ra mới. Ngày hôm nay tốt đẹp hơn ngày hôm qua và ngày mai phải tốt đẹp hơn ngày hôm nay.
          Được như vậy, chúng ta sẽ mau tiến đến bậc Siêu Phàm, toàn năng, toàn thiện.
          Vẫn biết, gõ mõ, tụng Kinh hay niệm Phật có sự ích lợi riêng của chúng nó, không ai phủ nhận điều này. Nhưng không phải thực hành bao nhiêu đó mà được Đắc Đạo thành Chánh Quả, thoát Đoạ Luân Hồi. Đây là mới tập tu mà thôi.
          Giáo lý của Chư Phật, phái Nam Tôn chỉ tóm tắt trong ba câu này:
  – Lánh dữ,
  – Làm lành,
  – Rửa lòng trong sạch.
          Chỉ có tám chữ thôi, mà kiếp này các bạn Cư sĩ như chúng ta bắt đầu thực hành thì 25, 30 kiếp sau e mới đạt được một phần tư ( ) hay một phần ba ( ) là giỏi lắm rồi đó. Trên con đường tu luyện có không biết là bao nhiêu chướng ngại dựng lên để thử thách Hành giả. Phải có gan vàng, dạ sắt, ý chí cứng cỏi như thép đã trui thì mới mong vượt qua và đi tới được.
          Bây giờ xin nói vài lời về đời sống và gương hy sinh cao cả của Đức Phật.

GƯƠNG HY SINH CAO CẢ CỦA ĐỨC PHẬT

          Đấng Chí Tôn mà người ta gọi là Đức Phật Thích Ca là người thứ Nhất của nhân loại đắc quả Phật. Cho tới ngày nay chưa có người thứ nhì thành Phật. Vị sẽ thành Phật trong vòng 600 năm nữa là Đức Di Lạc Bồ Tát (Seigneur Maitreya).
          Thuở xưa khi nhân loại đúng ngày giờ phải sản xuất những vị Bồ Tát, những vị Phật thì chỉ có hai Đấng Cao Cả đồng bậc tiến hóa với nhau: ấy là Đức Thích Ca và Đức Di Lạc.
          Đức Thích Ca tình nguyện xuống trước. Ngài phải đầu thai liên tiếp không biết bao nhiêu kiếp, mỗi kiếp phải hoạch đắc một đức tánh cần thiết cho địa vị cao cả sau này. Sau khi bỏ xác rồi thì Ngài trở lại cõi Trần liền không nghỉ ngơi trên cõi Thiên Đàng.
          Khi Ngài còn ở ngôi Bồ Tát, Ngài giáng phàm nhiều lần đặng sửa sang mối Đạo và lập một Tôn giáo mới cho hợp với trình độ tiến hóa của dân chúng địa phương. Mỗi lần Ngài xuống thế, Ngài lấy một tên khác như:
          1 – Hermès Trismégiste ở Ai Cập.
          2 – Zoroastre 1er ở Ba Tư.
          3 – Vyasa ở Ấn Độ.
          4 – Orphée ở Hy Lạp.
          Theo Công Truyền thì kiếp chót của Đức Bồ Tát đầu thai làm Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Sidhartha).
          Nhưng theo Khoa Bí Truyền thì Đức Bồ Tát nhập vào mình Thái Tử khi Thái Tử ngồi tham thiền dưới gốc cây Bồ Đề. Hai việc này vẫn trái ngược nhau vì lúc đó Thái Tử còn là một vị đệ tử.
          Nếu nói Đức Bồ Tát mượn xác Thái Tử Sĩ Đạt Ta thì phải nói tới Tiên Y mà Thái Tử phải mặc vào khi Đức Bồ Tát nhập vào mình Thái Tử. Không có Tiên Y thì xác thân Thái Tử sẽ tan ra tro bụi vì chịu không nổi thần lực của Đức Bồ Tát. Làm sao cắt nghĩa được lý do này cho ai nấy đều hiểu.
          Điều hay hơn hết là ai tin sao cũng được. Cãi cọ với nhau rất vô ích, đã mất niềm hòa khí mà cũng không đi đến kết quả nào cả, bởi vì không có những bằng chứng cụ thể để chứng minh việc này.
          Tại sao Quả vị Phật gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Bởi vì Đức Phật thuộc về Cung Thứ Nhì là Cung Đạo Đức và Giáo Dục. Tại quả Địa Cầu này quả vị cao hơn hết của Cung Thứ Nhì là Quả vị Phật, được Tám lần Điểm Đạo. Muốn đi xa hơn nữa phải đổi qua Cung Thứ Nhất là Cung Uy Quyền (1er Rayon).
          Thế nên phải hiểu: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là tại quả Địa Cầu này thôi. Ngoài ra còn nhiều cấp bậc cao hơn nữa ở mấy cõi khác.
          Thái Dương Hệ của chúng ta có giới hạn, còn Vũ Trụ Vô tận vô biên. Trên sông Thiên Hà có không biết bao nhiêu triệu ngôi Mặt Trời. Có cái cả chục, cả trăm, cả muôn, cả triệu lần lớn hơn ngôi Mặt Trời của chúng ta. Người ta mới tìm thấy một ngôi sao bốn tỷ cây số bề trực kính và đặt tên là Epsilon. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi sự tiến hóa trên mấy cõi đó là thế nào.
          Tự biết mình rồi thì làm thinh là điều hay hơn hết.
          Túc Sanh Truyện (Jataka Mala-Jataka Haratha) hay là Lalita Vistara có thuật 550 tiền kiếp của Đức Thích Ca. Song tôi tưởng 550 kiếp này không phải thật đúng là những tiền kiếp của Đức Phật. Có thể là những tiền kiếp của vị Đắc Đạo nào đó. Bởi vì muốn rõ những tiền kiếp của Đức Phật thì phải mở Tối Thượng Huệ Nhãn xem đời sống của Ngài ở Dãy Hành Tinh thứ Ba là Dãy Nguyệt Tinh chứ không phải riêng về Dãy Địa Cầu này mà thôi. Những điều này không cần bàn tới làm chi, vì nói ra không đi đến kết quả nào hết. Chỉ nên nhớ sự Hy sinh cao cả của Ngài là lúc Ngài luyện tập trong những kiếp liên tiếp chịu không biết bao nhiêu sự khổ cực. Rồi kiếp chót, Ngài bỏ đời sống vinh hoa phú quí để tu hành.
          Sau khi thành Phật rồi thì Ngài đi bộ từ thành này qua thành kia với các đệ tử khắp lưu vực sông Hằng đặng thuyết pháp, tròn 45 năm như vậy. Mỗi năm Ngài chỉ nghỉ có ba tháng trong mùa mưa mà thôi. Ai mời Ngài đến nhà đặng giảng Đạo thì Ngài đi liền với các đệ tử không hề đòi hỏi lễ lộc hay là những điều kiện nghinh tiếp trọng thể nào cả. Mặc dù xác thân Ngài thường đau yếu, Ngài không ngớt đem Chân lý ra giải thích với những hình thức khác nhau cho những người mà trình độ tiến hóa không đồng bậc với nhau, chỉ mong muốn thế nhân sống đúng với lẽ Đạo tức là Ý Trời mới mong diệt khổ được.

VỊ ĐỆ TỬ CHÓT: SOUBHADA

          Không còn bao lâu nữa Phật sẽ bỏ xác thì có một tu sĩ tên Soubhada – Nam Phạn – (Có chỗ viết Soubhadra – Bắc Phạn) tới xin Phật giải thích những chỗ hoài nghi của anh. Anada mới nói: Soubhada! anh đừng làm rộn Đức Phật, Ngài đang đau yếu. Ba lần Soubhada nài nỉ, ba lần đều bị Ananda từ chối.
          Đức Phật hay được bảo Ananda cho Soubhada vào. Ngài cắt nghĩa rành rẽ giáo lý cho Soubhada nghe rồi thu anh làm đệ tử chót.
          Soubhada nhờ Phật chỉ bảo phương pháp nên chẳng bao lâu anh đắc quả La Hán.[3]
          Đây là Phật treo gương sáng chói cho các nhà tu hành bất cứ thời đại nào mà nhất là các hàng Phật tử đời nay sẽ soi chung. Tới giờ phút chót, trước khi từ giã cõi đời, Phật cũng không quên việc độ người.
          Sau khi nhập Niết Bàn rồi, mỗi năm Ngài còn hiện ra một lần nữa để ban ân huệ cho chúng sinh trong ngày Lễ Huê Sắc (Wesak) vào giờ Trăng tròn của tháng Năm dương lịch (Mois de Mai).
BỮA ĂN CHÓT TẠI NHÀ ANH THỢ RÈN TCHOUNDA
 (CUNG ĐA)
          Kinh sách Bắc Tôn nói: Anh thợ rèn Tchounda (Cung Đa) dọn thịt heo đãi Phật. Sau khi Phật ăn rồi, cơn đau dữ dội phát lên nhưng Đức Phật vẫn đi tới Kousinara rồi bỏ xác tại đó.
          Người đời sau nói rằng: Tại Phật ăn thịt heo nên mới lìa trần.
          Nhưng dù Phật không dùng bữa ăn chót tại nhà anh thợ rèn Cung Đa, Phật cũng nhập Niết Bàn vì Ngài đã nhất định rồi.
          Sách nói: Trước đó, Ngài tới Vaisali (Quảng Nghiêm Thành), lúc đi khất thực, Ma Vương (Mâra) hiện ra xin Phật nhập tức khắc vào Niết Bàn. Phật bèn nói: Ma Vương ơi! ngươi đừng sợ, không còn bao lâu nữa Phật sẽ nhập tịch. Từ đây tới ba tháng nữa, Ta sẽ nhập Niết Bàn.
          Ananda năn nỉ Phật xin Phật ở lại. Phật bèn nói: “Ananda! Ta đã quyết định rồi, không thể nuốt lời.”
          Vậy thì không thể đổ lỗi cho anh thợ rèn Cung Đa và còn:
MỘT NGHI VẤN NỮA: KHÔNG PHẢI PHẬT ĂN THỊT HEO
          Theo chữ Phạn dịch là thịt heo có nhiều nghĩa như xương ngực con heo, nấm con heo đào. Dù sao món ăn đó rất độc. Sau khi Phật ăn rồi Phật bảo anh thợ rèn   đem chôn nó đi. Có lẽ nấm con heo đào đúng hơn, mà còn một tiếng chuông khác nữa là Kinh Nam Tôn nói rằng: “Anh thợ rèn Cung Đa không có dọn thịt heo cho Phật ăn.”
PHẬT KHÔNG CÓ ĂN THỊT HEO
          Trong quyển Đức Phật Cồ Đàmđời sống của Ngài (GotamaLe Bouddha. Sa vie), tác giả là Ông E. H. Brewster, soạn theo Kinh Phật Nam Tôn, trang 215 có đoạn này xin dịch đại ý ra đây cho quí bạn xem:
          “Sáng ra, anh thợ rèn Cung Đa (Tchounda) ở nhà lo nấu cơm, làm bánh và nhiều món ăn rất ngon. Xong rồi, anh tới cho Phật hay, anh nói: Bạch Phật! đã đúng giờ, bữa cơm đã sẵn sàng.”
          Đức Phật mặc áo rất sớm, Ngài cầm bình bát đi với các Huynh đệ đến nhà anh thợ rèn.
          Tới nhà rồi Ngài ngồi trên ghế đã dành sẵn cho Ngài. Khi Ngài ngồi xuống rồi, Ngài nói với anh thợ rèn: “Anh hãy dọn cho Ta những món ăn ngon mà anh đã làm, còn mấy món khác, như cơm và bánh, anh để cho các Huynh đệ.”
          Ngài nói với Cung Đa: “Anh hãy đem chôn những đồ dư lại của những món ăn ngon này. Ta không thấy tại quả Địa Cầu, trên cõi Mâra, trên cõi Phạm Vương, trong các nam nữ tu sĩ, trong các hàng Thiên Thần và con người, không ai, sau khi ăn món này, tiêu hóa nó dễ dàng, ngoại trừ Như Lai.”
Nguyên văn chữ Pháp:
          Et quand la nuit fut écoulée, Tchounda, le forgeron, prépara dans sa maison du riz et des gâteaux et Quantité de mets délicats. Puis il vint annoncer au Bienheureux que le repas était prêt en disant: “C’est l’heure, Seigneur, le repas est prêt.” Et le Bienheureux, que s’était habillé de bonne heure, prit son vase à aumônes et se rendit avec les frères à la demeure de Tchounda le forgeron.
          A son arrivé, il prit place sur le siège qui lui avait été préparé. Et quand il fut assis, il dit à Tchounda le forgeron. Vous me donnerez de ces plats délicats que vous avez préparés, quant aux autres mets, le riz ets les gâteaux, vous les donnerez aux frères.
          Alors, le Bienheureux dit à Tchounda, le forgeron. Tout ce qui resters de ces mets délicats, Tchounda enfouissez les dans la terre, je ne vois, Tchounda, sur la terre, dans le Ciel de Mâra, dans le Ciel de Brahma, parmi les ascètes et les Brahmines, parmi les Dieux et les hommes, personne sauf un Tathagata, qui après l’avoir mangée, puisse digérer convenablement cette nourriture.[4]
          Rõ ràng Kinh Phật Nam Tông nói anh thợ rèn Cung Đa dọn những món ăn ngon, chứ không phải Thịt Heo.
          Trong quyển Phúc âm của Đức Phật, tác giả là Ông Paul Carus nơi trang 234 (Evangile du Bouddha) nói rằng: Cô danh kỹ Ampabâli thỉnh Phật về nhà, dâng cơm trộn mật cho Phật, còn mấy Huynh đệ thì dùng bánh ngọt. Không thấy nói có món ăn mặn nào cả.
          Theo tục lệ Ấn Độ, không có vị Tu sĩ gọi là Dô Ghi (Yogi) nào ăn mặn cả. Xin nhắc lại khi Đức Bồ Tát nằm bất tỉnh vì nhịn ăn nên đói quá, cô gái chăn chiên (hay chăn bò) tên Nada dâng cho Ngài cơm trộn sữa. Ăn rồi Ngài bắt đầu phục hồi sức lực.
          Sự thật là, từ xưa đến nay không có nhà Huyền bí học nào dùng những món ăn làm bằng thịt thú vật đặng nuôi dưỡng xác thân nói chi là tới Đấng Chí Tôn Cao Cả là một vị Phật. Các Ngài biết rằng: Thịt cá có ảnh hưởng không tốt đối với tánh tình con người và làm cho xác thân trọng trược, không được tinh khiết. Thần lực từ mấy cõi trên tuôn xuống không thể vô mình con người được vì hai thứ rung động một cái cao quá, một cái thấp quá không đồng bậc với nhau cho nên không hoà hợp với nhau được.
          Thiết tưởng, các Cư sĩ, còn trong vòng trần tục, ăn chay hay ăn mặn tuỳ ý. Còn những vị xuất gia tu trì, một khi gởi mình vào chốn Thiền Môn thì phải trường chay mới giữ đúng lời Phật dạy. Chớ nên viện lẽ, người ta có lòng tốt, cho cái chi ăn cái nấy, cũng như Đức Phật đã dùng thịt heo của anh thợ rèn Cung Đa dâng cho Ngài. Mình hãy tự thành thật với mình trước nhất.

CHƯƠNG THỨ NHÌ

VÀI CHUYỆN PHI THƯỜNG TRONG  PHẬT GIÁO HIỆN ĐẠI
          Phật giáo cũng như các Tôn giáo khác vẫn có những chuyện huyền diệu phi thường như: Đức Phật ban sắc đẹp cho cô Viroupa, Xá Lơi Phất thấy những sinh vật hết sức nhỏ trong bầu nước mình uống. Đức Ma Ha Ca Diếp chấp tay lại thì cái bát bằng bạch đàn nhận châu ngọc của Diyotichka để trên chót vót của một cậy trụ cao rớt xuống và nằm trong bàn tay của Ngài v.v. . .
          Người ta gọi những điều này là phi thường, huyền diệu, bởi vì giác quan không nhận thức được chúng nó. Nhưng thật ra, không có chi là  phi thường cả, bởi vì tất cả đều tuân theo Luật Pháp. Vậy, biết được thì làm được.
          Những chuyện kể trên đây vốn ở trong sách Phật và thuộc về một quá khứ xa xưa, người ta có thể hoài nghi.
          Tôi xin kể vài chuyện xảy ra đời nay cho quí bạn xem.

MỘT VỊ CAO TĂNG MÀ NGƯỜI TA GỌI LÀ PHẬT THẦY TÂY AN CÓ HUỆ NHÃN

CHUYỆN HAI CHIẾC VÀNG

          Lúc đó, Phật Thầy còn ở trong một cái chùa lá tại Núi Sam. Một hôm, có một cô đeo một đôi vàng đem đồ vô chùa cúng, Ngài mới gọi cô đó lại và nói với cô: “Đôi vàng của con đeo đó không tốt đâu.” Cô nọ nghe qua hiểu liền, bởi vì đôi vàng đó, chồng cô đi ăn trộm của người ta đêm hôm, sáng ra, cô lấy đeo rồi đi cúng chùa.

ĐỨNG MÃI KHÔNG NGỒI

          Ngày kia, Tổng Đốc An Giang (Trước kia Châu Đốc tên là An Giang) cho mời Phật Thầy ra rồi xin Ngài ngồi trên bộ ngựa có trải chiếu bông và gối dựa. Ngài đứng mãi không ngồi. Hỏi tại sao vậy? Ngài trả lời: “Có một vị lớn hơn ở dưới chiếu.” Dở chiếu ra thì thấy bức tượng Quan Công.
          Quan đầu Tỉnh muốn thử Ngài vì nghe Ngài là một bậc chơn tu thông hiểu quá khứ, vị lai.

ĐỨC PHẬT THẦY TÂY AN TIÊN TRI NHIỀU VIỆC, NGÀY NAY THẤY RẤT ĐÚNG
          Ngài biết trước Pháp qua ở đây được lâu dài, nên đặt tên chùa là Tây An Tự.   
Ngài nói:
          a – Dân Núi Sam sau sẽ ăn đá. Người ta lấy làm lạ, bây giờ người ta bán đá, lấy đá bán, mới biết Ngài thấy trước.
          b  – Sau xài tiền ma bạc quỉ, tức là giấy bạc bây giờ.
          c – Đường lộ sẽ đem hắc (tức là đường tráng nhựa).
          d – Hết Tây đến U v.v. . . .
          Tôi đem chuyện hai chiếc vàng và đứng mãi không ngồi thuật lại cho quí bạn xem để chứng minh rằng: Tư tưởng, ý muốn, lời nói và việc làm đều có hình dạng. Con mắt phàm không thấy được mà người có Huệ Nhãn đều thấy.
          Chớ nên tưởng những chuyện khuất lấp của mình làm không ai biết.
          Trước nhất mình biết là Một.
          Trời Đất biết là Ba.
          Thần Thánh biết là Năm.
          Quỉ Ma biết là Bảy.
          Đừng tưởng rằng giấu người ta được. Rốt cuộc thiên hạ đều hay.
          Theo Đạo đức: “SỰ TIẾN HÓA THẬT SỰ CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ TIẾN HÓA CỦA TÁNH TÌNH.”
          Phật giáo nói rằng: Có mười chướng ngại buộc trói con người vào Bánh xe Luân Hồi. Chặt đứt chúng nó rồi thì con người thành một vị Siêu Phàm, được hoàn toàn giải thoát. [5]
          Mà tại sao trong Đạo đức rất chú trọng về hạnh kiểm?
          Bởi vì càng ngày con người càng trau giồi tâm tánh thì những quyền năng siêu việt càng ngày càng phát triển. Phải Minh Triết, phải Cẩn thận là điều cần thiết nhất. Nếu chỉ lo có một việc là mở rộng trí khôn, mặc dù điều này rất tốt, thì chưa đủ. Nếu thông minh tuyệt thế mà còn: tham lam, ích kỷ, tật đố, kiêu căng thì làm hại cho đời hơn là làm lợi, con người sẽ gây nhiều sự xáo trộn, những sự bất hòa, những chứng minh giặc giã là cái tai họa kéo dài từ đời này qua đời kia, chưa biết tới chừng nào mới chấm dứt.
          Tôi đem mấy việc này nói ra đây không phải là lạc đề đâu nhé. Tôi muốn chỉ cho quí bạn thấy Tám lẽ Chánh của Phật rất hữu ích cho sự tiến hóa của nhân loại biết dường nào. Nhưng phải thực hành cho đúng phép mới thấy Giá Trị lớn lao của chúng.
          Vẫn biết điều này thật là cực kỳ khó khăn, vì hoàn cảnh, vì phương tiện, khó thực hành hơn muôn lần leo lên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Song nếu mỗi kiếp, ta cứ cố gắng thì từ kiếp này qua kiếp kia ta cứ tiến lên mãi. Sự thành công sẽ là vấn đề thời gian.
          Chớ nên ngã lòng, dù ta không muốn đi tới, Luật Tiến Hóa cũng thúc đẩy ta đi tới mãi, không có bao giờ thụt lùi lại, cho tới chừng nào thành một vị Siêu Phàm. Sau khi thành Chánh Quả rồi ta mới bắt qua đi đường khác. Trong lúc còn làm người nên đi mau là điều hay hơn hết.
          Bây giờ xin nói về hai cuộc lễ lớn của Phật giáo mà các nhà Huyền Bí Học trên Hoàn Cầu đều biết là: Vía Phật (Fête du Wesak) và lễ Asala (Chuyển Pháp Luân).
ĐỨC PHẬT CÒN LIÊN LẠC VỚI CÕI TRẦN
          Theo phép khi một Đức Bồ Tát thành Phật rồi thì Ngài ra dạy Đạo một lần chót. Nhiệm vụ Ngài xong xuôi thì Ngài về mấy cõi cao đặng làm việc cho nhân loại, không bao giờ trở xuống Trần nữa.
          Về trường hợp của Đức Thích Ca thì lại khác hơn các vị Phật trước. Không biết trong những công việc của Ngài có vài điều nào đó mà Ngài không có ngày giờ làm cho hoàn thiện. Có lẽ vì quá mệt nhọc trong những kiếp Luân Hồi liên tiếp không nghỉ ngơi. Phải chăng vì muốn bồi bổ sự khuyết điểm đó nên Ngài mới làm hai việc sau đây:
          Một là: Vẫn còn liên lạc với Đức Di Lạc Bồ Tát. Nếu gặp trường hợp cấp bách, Đức Di Lạc cầu khẩn Ngài thì Ngài xuống chỉ bảo.
          Hai là: Mỗi năm đến ngày nhập Niết Bàn thì Ngài hiện ra ban ân huệ cho nhân loại.

VÍA PHẬT – NGÀY GIỜ VÀ ĐỊA ĐIỂM

          Vía Phật (Fête du Wesak) cử hành vào ngày giờ trăng tròn của tháng Wesak của Ấn Độ, thường thường chạy nhằm tháng Năm dương lịch hay là tháng Tư âm lịch. Năm nào âm lịch nhuần thì tháng Ba (Xin nhớ là giờ trăng tròn chứ không phải ngày trăng tròn) để kỷ niệm Ba việc quan trọng trong đời sống của Đức Phật như:
          1 – Lúc Đức Bồ Tát mới giáng sinh.
          2 – Lúc Ngài đắc Đạo thành Phật.
          3 – Lúc Ngài nhập Niết Bàn.
          Ba việc này đều xảy ra đúng vào giờ trăng tròn của tháng Wesak.

ĐỊA ĐIỂM

          Chính là Quần Tiên Hội đứng ra tổ chức cuộc lễ này.
          Trừ ra Đức Ngọc Đế và Ba Vị Độc Giác Phật đệ tử của Ngài, thì tất cả nhân viên của Quần Tiên Hội, Tiên Thánh trên Địa Cầu và các đệ tử được Điểm Đạo đều có mặt trong cuộc lễ này để chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn.
          Địa điểm chọn lựa là một cao nguyên nhỏ chung quanh có những núi non không không cao lắm bao bọc, tại miền phía Bắc dãy Hy Mã Lạp Sơn, không xa biên giới Népal và cách thành Lhassa lối 400 dặm.

ĐỨC PHẬT HIỆN RA

          Nhiều đoạn kinh đọc lên.
          Khi Đức Phật hiện ra thì Ngài lấy hình Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Tất Đạt Ta) lúc cắt tóc đi tu, Ngài ngồi xếp bằng giữa không trung ở phía Nam, mặc áo cà sa như Tăng Lữ, chấp tay lại, hào quang rực rỡ, màu sắc đẹp đẽ vô cùng.
          Nhân viên Quần Tiên Hội chấp tay vái chào Ngài, còn những người Hành hương thì rạp xuống cúi lạy, trong khi đó những người khác đọc bài Tam Quy do Đức Phật dạy cậu trẻ Chatta.
          Khi bài Kinh Mangala Sutta và đoạn Kinh ca tụng Đức Thế Tôn đọc xong thì Ngài mỉm cười rồi giơ tay lên ban ân huệ. Tức thời một đám mưa hoa rớt xuống, giữa đám người Hành hương, phần đông là những người du mục từ Trung bộ Á Châu và từ những xứ miền Bắc đến. Họ biết ngày Vía Phật nên trước đó vài ngày họ tới đây dựng những lều hình dáng kỳ lạ gần bên bờ suối. Trước giờ lễ, họ tắm rửa và giặt quần áo sạch sẽ đặng chờ đến ngày giờ bái Phật. Cũng có vài vị Lạt Ma ở gần đó đến dự.

HỌ CÓ THẤY NGÀI KHÔNG?

          Chắc chắn là không. Họ quì xuống lạy khi họ thấy Nhân viên Quần Tiên Hội cúi đầu vái chào Ngài.
          Muốn thấy Đức Thế Tôn phải mở nhãn quan của cái Phách (Vision éthérique) bởi vì Đức Phật dùng chất Dĩ Thái Hồng Trần làm một cái hình giả. Con mắt phàm không thấy dĩ thái.
          Khi Đức Phật ban ân huệ xong thì hình Ngài lần lần biến mất. Cuộc lễ chấm dứt.[6]
ÂN HUỆ CỦA PHẬT LÀ CÁI CHI?
          Đức Phật có một thứ thần lực đặc biệt của Ngài để ban ân huệ cho cõi Trần. Ân huệ này là một việc kỳ diệu và độc nhất vô nhị. Với những quyền năng và địa vị của một vị Phật, Ngài vào những cõi cao siêu mà chúng ta không thể nào lên tới đó được. Vì thế Ngài có thể biến đổi và đem xuống cảnh giới của chúng ta những thần lực của mấy cõi đó. Không có sự trung gian của Đức Phật thì những thần lực này không giúp ích cho chúng ta chút nào trong đời sống Hồng Trần. Những sự rung động của chúng thật lạ lùng và rất mau lẹ cho đến đỗi, dù chúng ta tiến hóa tới bậc nào đi nữa chúng cũng đi ngang qua mình chúng ta mà chúng ta không hề hay biết chi cả. Thay vì những điều đó, thần lực ban xuống khắp cõi Trần gặp liền những vận hà, do đó chúng truyền đi, cũng như nước gặp ngay những ống dẫn thì tuôn chảy. Chúng tăng cường cho những công việc tốt lành và đem sự an tịnh cho những ai có thể thâu nhận được chúng.

LỄ CHUYỂN PHÁP LUÂN

– ASALA –
          Ngoài cuộc lễ Huê Sắc (Wesak), mỗi năm còn một dịp khác để cho Nhân viên Quần Tiên Hội chính thức gặp gỡ nhau một lần nữa. Ấy là lễ Asala, lễ Chuyển Pháp Luân cử hành vào giờ trăng tròn của tháng Ashadha Ấn Độ, chạy nhằm tháng Bảy dương lịch.
          Lúc đó các Tiên Thánh và các đệ tử nhóm họp trong vườn của Đức Bồ Tát. Chính là Đức Di Lạc (Seigneur Maitreya) lập lại bàiChuyển Pháp Luân, để kỷ niệm ngày Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại  Lộc Dã Viên xưa kia thuộc về địa phận Sarnath gần Ba Nại La (Bénarès) giải về Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo. Bài này cũng gọi là Bài Thuyết Pháp tại Ba Nại La (Sermon de Bénarès) của Đức Bồ Tát nói bằng tiếng Pa Li (Pali) Nam Phạn mà các thính giả đều nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình, nghĩa là người Anh nghe bằng tiếng Anh, người Pháp nghe bằng tiếng Pháp, người Đức nghe bằng tiếng Đức, người Ý nghe bằng tiếng Ý v.v. . . .
          Tiếng nói của Ngài như chuông ngân, êm dịu vô cùng. Mặc dù bài Chuyển Pháp Luân đã được lập lại nhiều lần như nhau, nhưng với tài hùng biện của Đức Bồ Tát, các thính giả đều nghe như một bài mới mẻ, lần đầu tiên.
          Trong cuộc lễ này không có khách Hành hương nào tới đây bằng xác thân. Những ai biết xuất Vía, tới xin dự thính thì được tiếp đón niềm nỡ.
          Hiện giờ, ít có ai biết được hai cuộc lễ này ngoại trừ các nhà Đạo học uyên thâm. Tuy nhiên, biết hay không biết, tin hay không tin, là điều không quan trọng. Việc cần thiết nhất là luyện tánh tình cho thật tốt, làm sao cho tấm lòng càng ngày càng trong sạch hơn trước, rồi tới một ngày kia tự mình kinh nghiệm mới thấy đâu là Chân lý. Tới chừng đó quí bạn sẽ công nhận rằng Bốn chuyện mới kể trên đây vốn là sự thật chứ không phải là những điều bịa đặt để phô trương Phật giáo.
          Nói cho đúng, Phật giáo:
     Không phải là ở trong chùa chiền, trong am tự.
     Không phải ở trong những cuộc lễ bái, thờ phượng.
      Không phải ở trong những quyển Kinh kệ tụng niệm hàng ngày.
     Không phải ở trong bộ áo cà sa hay là tràng chuỗi hạt.
          Đó là những hình thức bên ngoài, thường vấy bợn nhơ, còn Linh Hồn bên trong hay là Tinh Thần trong sạch, sáng suốt mới là Phật.
          Phật giáo vốn ở trong sự giữ gìn Ngũ giới và sự thực hành Tám lẽ Chánh.
          Người Phật tử là người cố gắng sống như lời Phật đã dạy, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Phải tự thức tỉnh, phải có can đảm nhìn vào sự thật. Đừng tự dối mình trước rồi dối người sau. Rất vô ích mà còn mang thêm nghiệp quả nặng nề, kiếp sau phải thanh toán.
          Cái gương của cô đeo đôi vàng đi cúng chùa và bức tượng Quan Công không lọt qua được mắt của Cao Tăng mà tục gọi là Phật Thầy Tây An, nói chi tới các Đấng Cao Cả toàn năng, toàn thiện.
          Không tu thì thôi, nhược bằng: Tu hành thì phải hết sức Chơn chánh và phải sợ Luật Luân Hồi Nhân Quả, Lưới Trời tuy thưa mà không có cái chi lọt khỏi.
          Đừng quên rằng tới một ngày kia chúng ta đều bỏ xác phàm nặng trĩu này rồi kiếp sau chúng ta sẽ trở lại cõi Trần nữa và sẽ mang một xác thân mới khác. Xác thân mới này là kết quả của xác thân hiện tại. Bởi: Nhân nào sinh Quả nấy, cho nên xác thân kiếp sau trong sạch hay bợn nhơ tùy thuộc tánh tình tốt đẹp hay xấu xa của ta kiếp này.
          Về hạnh kiểm cần thay đổi tư tưởng, ý muốn, lời nói và việc làm cho đúng với lẽ Đạo tức là thay đổi mục đích: Đem cái hay thay đổi cái dở, đem cái cao thượng thay đổi cái thấp hèn, đem cái lành thay thế cái dữ, đem cái vị tha thay thế cái ích kỷ, đem cái hiền lương thay thế cái hung ác v.v. . . . . Bao nhiêu đó đã đủ, nhưng phải nỗ lực, phải bền chí, phải cố gắng từ ngày này qua ngày kia trong một thời gian khá lâu 15, 20 năm và nhiều kiếp sau nữa. Xin nhớ mãi hai câu:
       Nhất thiết do tâm tạo và
       Chí công mài sắt, chày ngày nên kim.
          Mong rằng quyển này giúp cho quí bạn có một quan niệm đúng đắn về PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY, bởi vì Phật giáo là Đạo Cứu Thế khai sáng cho đời chứ không phải là Đạo Yếm Thế như bấy lâu nay nhiều người đã lầm tưởng.
          Phật giáo cũng không phải là Cái Đạo chỉ dạy tín đồ ngồi tụng Kinh, gõ mõ mãi đặng ngày sau về Tây Phương Cực Lạc ngồi trên toà sen, điều mà Đức Phật không có làm mà cũng chẳng hề dạy tín đồ làm như thế. Chỉ tại đời sau người ta bày đặt rồi để Phật ngôn đặng cho thiên hạ tin.
          Phải suy nghĩ kỹ lưỡng, phải mở trí phân biện mới tránh được cái họa mê tín dị đoan.

CHƯƠNG THỨ BA

PHẬT CHUYỂN PHÁP LUÂN
          Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại Sarnath gần Ba Nại La (Bénarès) về Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo. Nam Phạn là Dhammachakkappa-vattanasoutta, ông Rhys David dịch là La mise en mouvement des Roues du Char Royal du Royaume de la vie droite, Tàu dịch là Chuyển Pháp Luân.

TINH HOA PHẬT GIÁO

          Thế thì Tinh hoa Phật giáo gồm trong Tứ Diệu Đề –  Aryasatyâni Sancrit (Bắc Phạn) hoặc Aryasacca (Pâli) (Nam Phạn).
          Tứ Diệu Đề là:
         1    KHỔ ĐỀ: Dukkha Aryasatya: Sự khổ.
         2    TẬP ĐỀ: Samudya: Nguyên nhân sự khổ.
         3    DIỆT ĐỀ: Nirdha: Diệt sự khổ.
         4   ĐẠO ĐỀ: Marga: Đạo mầu diệt khổ là Bát Chánh Đạo – Aryatângamarga (Bắc Phạn) hoặc Ariyoatthangikomaggo.
a – KHỔ ĐỀ: (Sự khổ)
          Đời người vẫn khổ. Từ khi mới sinh ra cho tới lúc bạc đầu trước ngày giờ nhắm mắt từ giã cõi Trần. Hãy nhìn xung quanh ta và lấy công tâm mà xét đoán thì thấy toàn là sự khổ. Chúng sinh lâm vào biển khổ mà không ngờ, ngồi trên lò lửa mà không biết. Nắng lửa, lạnh đồng, mưa sầu, gió thảm, đất động, nước dâng sóng cuốn là các hoạ Trời làm, còn chiến tranh tàn khốc, cướp bóc lẫn nhau và hãm hại nhau vì miếng ăn, vì đất ở, vì chỗ đứng, vì nơi ngồi là cái khổ của con người  gây ra. Chúng sinh có lúc khổ về tinh thần, có lúc khổ về vật chất, hễ tránh được cái này thì phải vương cái nọ. Trên thế ai dám tự hào rằng mình được toại hưởng phước lành suốt đời mà không khổ về một phương diện nào cả. Mới vui vẻ đó, rồi buồn bực đó, mới sung sướng đó rồi khổ cực đó, day trở liền liền, toàn là giả tạm, không có cái nào là vĩnh viễn trường tồn. Nỗi e “Phước bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.” Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ. Bốn cái khổ này những ai chưa thoát tục đều phải vương mang dù trốn trong rừng rậm, non thẳm cũng không tránh được.
          Chúng sinh bị khổ đã đành, mà nguyên nhân sự khổ do đâu mà ra?
b – TẬP ĐỀ: (Nguyên nhân sự khổ)
          Nguyên nhân sự khổ là do lòng ham muốn gọi là dục vọng không được toại, nó gây ra muôn vàn tội lỗi, hại mình và hại luôn cả muôn cả ngàn người khác nữa. Lòng ham muốn đó do Vô Minh sinh ra. Vô Minh là không thông Luật Trời, không biết mình ở đâu đến và có bổn phận nào phải thực hành cho vuông tròn lúc còn tại thế. Bởi vậy con người thường làm những việc trái với Thiên Ý; chừng quả báo trả lại thì than van, rên siết, oán Trời, trách đất, giận vật, hờn người, chứ không xét coi lỗi từ đâu mà ra thế đó, và cũng không biết quả báo tới thức tỉnh con người đặng trở nên khôn ngoan đừng phạm lỗi nữa. Từ ngàn xưa, hễ Nhân nào thì sanh Quả nấy. Cái khổ của chúng sinh gây ra thì chúng sinh phái gánh lấy. Quả thật cái khổ của Nhân loại bây giờ là do Nhân loại gây ra từ nhiều kiếp trước và luôn trong kiếp này nữa, từ cá nhân cho tới toàn thể, chứ không phải vô cớ mà Trời sinh ra tai họa đâu. Nói cho đúng, Trời không ban thưởng ai mà cũng không hành phạt ai, chỉ tại con người kêu cái họa hay cái phước tới cho mình, đúng với câu: “Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu; thiện ác hữu báo như ảnh tùy hình.” Ấy là Luật Nhân Quả Báo Ứng. Nếu Sông Duyên tràn đầy mãi (Duyên hà mãn) thì con người cứ sanh sanh hóa hóa trong vòng Luân Hồi vô số kiếp, cái khổ không biết chừng nào mới hết được.
c – DIỆT ĐỀ: (Diệt sự khổ)
          Ta đã biết: Sự khổ – Nguyên nhân sự khổ – bây giờ ta phải lo diệt khổ. Mà bằng cách nào?
          Người ta cho rằng các tổ chức kinh tế và xã hội không khéo nên dân chúng mới lầm than. Những nhà cách mạng đưa ra giải pháp này, giải pháp nọ, người này rồi tới người kia, giải pháp nào trên mặt lý thuyết cũng rất hay, đáng khâm phục, nhưng khi đem ra thực hành, một thời gian sau, thì thấy vô hiệu quả, đâu cũng hoàn đó. Điều này không khác nào, chê con chim ở trong cái lồng cũ rất xấu nên bắt nó bỏ vào cái lồng mới sơn son thếp vàng bề ngoài rất xinh đẹp. Nhưng mà cái lồng vẫn là cái lồng, nỗi e còn chật hẹp hơn cái lồng cũ nữa. Con chim ở trong lồng không ca hát được như con chim ở trên cành bay lượn ngoài trời, tự do, thong thả.
          Ta phải tự hỏi vì lý do nào mà con người ít khi thành công trọn vẹn. Ấy tại ta chỉ thấy cái hiệu quả, chứ không biết nguyên nhân. Những việc xảy ra dưới Trần đều có nguyên nhân trên cõi Vô hình, con mắt phàm không thấy được.
          Con người biết được một khía cạnh nhỏ nhất của Chân lý chứ không biết toàn diện Chân lý.
          Từ ngàn xưa, trị bệnh phải trị tận gốc mới tiêu trừ được nó. Nếu chữa cái ngọn, nó có thể giảm bớt, ở ngoài coi như lành mạnh, nhưng nó còn ngấm ngầm bên trong. Tới một ngày kia nó mới bộc phát và dữ dội hơn trước.
          Nói cho đúng lý, một khi biết rằng nguyên nhân  của sự đau khổ là lòng tham muốn quấy quá thì điều hay hơn hết là tìm cách sửa đổi lòng người ra chơn chánh, thanh bai, nhân từ, thương yêu đồng loại, tương trợ lẫn nhau, thì chắc chắn cái khổ sẽ bị tiêu diệt lần lần trong một thời gian sau bởi vì xã hội do nhiều cá nhân hợp thành. Nếu mỗi cá nhân đều sống một đời cao thượng, vị tha, thì lẽ tự nhiên toàn thể xã hội sẽ trở nên tốt đẹp. Nói tóm lại, muốn cải tạo xã hội thì phải lo cải thiện lòng người.
          Đây là chữa bệnh tận gốc. Vì thế Đức Phật mới nói về Đạo Đề đặng dạy con người phải tự mình gội rửa lòng mình cho trong sạch mới diệt khổ được.
d – ĐẠO ĐỀ: (Pháp mầu diệt khổ)
          Pháp mầu diệt khổ là Đạo Bát Chánh.
          Tám lẽ Chánh này là:
          1     Samyak-Droti: Croyance juste – Tín ngưỡng Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh kiến.
          2     Samyak-Samkalpa: Pensée Juste – Tư tưởng Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh tư duy.
          3     Samyak-Vac: Parole Juste – Lời nói Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh ngữ.
          4     Samyak-Karmanta: Action juste – Việc làm Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh nghiệp.
          5 –   Samyak-Ajiva: Juste moyen de gagner sa vie – Nghề nghiệp Chơn Chánh – Tàu dịch là Chánh mạng.
          6 –   Samyak-Vyayama: Effort juste – Sự cố gắng Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh tinh tiến.
          7 –   Samyak-Snoti: Mémoire juste – Sự tưởng nhớ Chơn chánh – Tàu dịch là Chánh niệm.
          8 –   Samyak-Samâdhi: Méditation juste – Định chơn chánh – Tàu dịch là Chánh Định.

CHƯƠNG THỨ TƯ

CHÁNH KIẾN
(TÍN NGƯỠNG CHƠN CHÁNH)
          Thế nào là Tín ngưỡng Chơn chánh?
          Tín ngưỡng Chơn chánh là tin những điều nào có thật, chứ không phải tin những chuyện dị đoan phi lý. Tỷ như:
          Tin rằng có Trời Phật, Thánh Thần, có Luật Luân Hồi, Nhân Quả, Luật Tuần Hoàn, Luật Thăng Bằng, Luật Thay Hình Đổi Dạng, Luật Tiến Hóa, Luật Điều Hòa và nhiều Luật khác nữa chưa khám phá ra.
          Tin rằng con người có số mệnh, con người phải theo con đường Thánh Thiện, phải trau giồi tâm tánh cho thật tốt, đó là Tín ngưỡng Chơn chánh.
          Còn khi nghe nói: Cuốn đó là Kinh Phật thì lập tức cúi đầu tin theo, không dám xét đoán, không dám suy nghĩ coi những lời trong đó có đúng với chánh lý hay không, là mê tín. Vì lẽ nào vậy? Thiết tưởng cũng phải lập đi lập lại nhiều lần rằng: Đức Phật và các đệ tử lớn không có viết một cuốn Kinh nào đặng lưu lại hậu thế. Những Kinh Phật truyền tới đời nay vốn của người đời sau đặt ra khoảng 240 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
          Muốn có Tín ngưỡng Chơn chánh thì phải lo mở Trí đặng phân biện, cái nào phải, cái nào quấy, cái nào tà, cái nào chánh, cái nào giả, cái nào chơn, cái nào phù du mộng ảo, cái nào vĩnh viễn trường tồn.
          Nhưng ở trong đời có không biết bao nhiêu tư tưởng dị đoan, phi lý, có không biết bao nhiêu sự sai lầm, làm sao biết được cái nào đúng với Chân lý đặng theo. Họa may là học được Chơn truyền và mở được Trực giác mới chắc ý là mình không lầm lạc.
          Tuy nhiên có thể lấy những lời Phật giải cho những người Kalama và có ghi trong Kinh Kalama Sutta de L’Anguttara Nikaya (Tăng Nhứt A-Hàm) đặng làm tiêu chuẩn thì cũng có thể tránh được một phần tin tưởng dị đoan. Tôi có thuật lại trong Phần Nhì của quyển Đâu Là Chân Lý.[7]
          Có người bảo: Theo Phật Giáo Nam Tôn, Tín ngưỡng Chơn chánh là tin cái kết quả của việc làm, tức là làm lành thì lành đến, làm dữ thì dữ đến. Vậy xin hỏi: Tại sao có nhiều người giàu sang làm những việc bất nhân thất đức mà không thấy cái chi xảy đến cho họ?
          Còn những người hiền lương, đức hạnh mà lại thường bị những sự khổ não buồn bực tới khuấy rối. Vì lý do nào? Tôi xin trả lời liền. Nên biết:
          Quả báo của Tư Tưởng trả cho Cái Trí.
          Quả báo của Ý Muốn và Tình Cảm trả cho Cái Vía.
          Quả báo của Lời Nói và Việc Làm trả cho Xác Thân.
          Những người giàu có kiếp này là nhờ kiếp trước bố thí nhiều tiền của, nên bây giờ họ hưởng quả tốt đẹp về mặt vật chất.
          Ngày nào họ còn thịnh thời, ngày đó họ vẫn yên vui. Tới chừng họ hết thời tức là hưởng hết phước rồi thì những sự khó khăn sẽ dồn dập tới. Họ trả quả những điều bất chánh mà họ đã làm.
          Còn những người hiền lương mà phải trải qua những sự khó khăn là tại họ phải lãnh những quả xấu đã gây ra từ những kiếp trước. Chừng nào trả xong rồi thì họ sẽ hưởng những điều lành của họ làm kiếp này.
          Muốn biết Luật Nhân Quả hành động như thế nào thì hãy nghe tiếng dội thì biết.
          Nếu ta đứng tại mé rừng rồi la: “Tôi thương anh” thì ở trong rừng có tiếng dội lại: “Tôi thương anh.” Còn nói: “Tôi ghét anh” thì sẽ có tiếng dội: “Tôi ghét anh.”
          Mỗi hành động đều có kèm theo sự phản động cân phân với nhau. Sự phản động này đến mau hay chậm tùy theo bản tính của việc làm hay là sự  hành động.
          Cái chi xảy đến cũng phải đúng ngày giờ – không sớm quá cũng không muộn quá.
          Câu: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” luôn luôn vẫn đúng – bất cứ ở thời đại nào.
          Chỉ tại con người không biết sự hành động của Nhân Quả và cách Trả Quả khác nhau của mỗi người mà thôi.
          Tưởng cũng phải nói trắng ra, có những Đấng Chí Tôn xem xét tội phước của con người đặng định phần số kiếp sau. Ấn Độ gọi các Ngài là Lipikas, Pháp dịch là Les Seigneurs du Karma, Tàu gọi là các Nam Tào, Bắc Đẩu. Chứ sự thật, cái Luật làm sao biết được mỗi người là bao nhiêu tội, làm bao nhiêu phước đặng cho Trả Quả.
CHƯƠNG THỨ NĂM
CHÁNH TƯ DUY (TƯ TƯỞNG CHƠN CHÁNH)
          Thế nào là Tư tưởng Chơn chánh?
          Tư tưởng Chơn chánh là tư tưởng đúng với sự thật và đúng với Chân lý, chứ không phải do sự tưởng tượng sinh ra. Giải rộng ra, Tư tưởng Chơn chánh là tư tưởng cao thượng, từ bi, bác ái, khoan dung, đại độ, ngay thật, trung trực, không bao giờ nghĩ tới việc hãm hại ai, gạt gẫm ai đặng vụ lợi cho mình, để cho kẻ khác phải chịu đau khổ. Trái lại chỉ lo mưu hạnh phúc cho quần sanh để giúp đỡ Thiên hạ sớm qua Bờ Giác, tùy khả năng, tùy phương tiện.
          Tại sao Phật dạy: Tư tưởng phải chơn chánh?
          Điều này phải giải nghĩa rộng ra.
          Nên biết mỗi lần ta tưởng thì ta sinh ra một hình tư tưởng. (Ở đây tôi không nói cách cấu tạo hình tư tưởng).
          Hình tư tưởng là một con sinh vật như con thú vậy. Nó cũng mạnh, cũng yếu, cũng khôn ngoan, cũng quỉ quyệt, cũng hiền hậu, cũng hung dữ tùy theo bản tính của nó do người đã sinh ra nó. Nó cũng sống, cũng thác như con người tùy theo cách ta nuôi dưỡng nó.
          Bây giờ ta xem xét coi hậu quả của một tư tưởng quấy quá là thế nào.
          Thí dụ ta sinh ra trong trí một tư tưởng quấy. Ta không thấy nó ra sao mặc dù nó có hình dạng rõ ràng. Ta tưởng nó đi mất. Nhưng không, ta lầm vậy. Tư tưởng này xẹt lên trên không rồi nó đi vô trong Trí những người ở xung quanh ta đặng truyền bản tính của nó, nghĩa là nó xúi dục họ tưởng quấy như nó vậy. Rồi tư tưởng quấy của họ đi vô trí những người khác đặng xúi dục họ làm quấy nữa. Người này hại người kia rồi người kia hại người nọ. Không bao lâu tư tưởng quấy ta cho là nhỏ nhen, mảy mún thành ra một tai họa lớn lao cho đời. Ai có ngờ như thế đâu? Nghiệp duyên buộc trói ta với người bị tư tưởng xấu của ta xúi dục làm ác, nghĩa là ta phải đồng chịu tội với họ. Đây là nguyên nhân của sự Cộng nghiệp.
          Trong lúc sinh ra tư tưởng quấy, Cái Trí ta lại rút vô mình tư tưởng quấy khác đồng tính chất với nó, làm cho nó trở nên xấu xa thêm. Nói tóm lại, mỗi lần sinh ra một tư tưởng quấy ta làm ba cái hại một lượt:
          Trước hết là ta hại ta.
          Kế đó ta hại ở những người xung quanh ta.
          Sau rốt, ta hại đời, vì mỗi ngày thiên hạ rải trên không cả ngàn triệu tư tưởng quấy làm cho đời bị đau khổ nhiều rồi. Bây giờ ta còn thêm một tư tưởng quấy nữa, tức là thêm một sự khổ cho đời. Cũng như lửa đang cháy phừng phừng mà ta còn ném vô một bó củi thì bao giờ nó mau tắt được.
          Tư tưởng quấy làm hại thế nào thì trái lại tư tưởng tốt cũng làm lợi như thế ấy. Ta sinh ra một tư tưởng tốt thì Cái Trí ta rút những tư tưởng khác đồng bản chất với nó, nhờ vậy nó hóa ra tốt đẹp. Đồng thời tư tưởng tốt của ta đi khuyên dỗ những người ở chung quanh ta làm lành, rồi mấy người này nhờ tư tưởng tốt của họ khuyến khích những người khác làm lành nữa. Sự lành đó sẽ lan tràn khắp nơi. Tóm lại, mỗi lần tư tưởng lành thì ta làm ba việc lợi ích một lượt:
          a – Ta làm lợi cho ta trước nhất vì Cái Trí ta trở nên tốt đẹp, nó chiếu ra những màu sắc tốt tươi.
          b – Ta cải thiện đời sống những người ở chung quanh ta.
          c – Ta giúp đời diệt khổ.
          Tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự tiến hóa và kiếp số của cá nhân và quần chúng. Nó là cội rễ của sự Luân Hồi Quả Báo. Chớ nên lầm rằng: Tưởng rồi không làm thì không mắc tội, Luật Nghiệp Duyên không dung tha ai cả. Vì mấy lẽ trên đây, Phật mới khuyên ta tư tưởng phải chơn chánh. Ta khá thận trọng từ chút trong tư tưởng kẻo gây ra những quả xấu về sau.

KIỂM SOÁT TƯ TƯỞNG

          Thế nên ta có bổn phận giờ phút nào cũng phải lo kiểm soát chặt chẽ những tư tưởng của ta sinh ra hay là những tư tưởng ở ngoài vô trong trí ta.
          Ta không nên để Cái Trí ta như ngã ba đường cái hoặc như cái quán trọ, tư tưởng này đến ghé một lát rồi ra đi, kế tư tưởng khác đến viếng, cứ tiếp tục như vậy mãi, ngày này qua ngày khác, kiếp này qua kiếp nọ.
          Như vậy sự tiến hóa của ta sẽ chậm chạp, ta bị liệt vào hạng những người trễ bước.
          Ta phải nuôi trong trí ta những tư tưởng tốt đẹp, thanh cao, còn những tư tưởng xấu xa, quấy quá thì phải xua đuổi đi lập tức, ngay khi chúng nó vừa sinh ra bởi vì không biết chúng nó biến thành sự hành động giờ phút nào?
          Thí dụ: Ta vừa nổi nóng, lập tức ta phải nói: “Tôi vui vẻ ôn hoà,” nói trong năm phút thì tư tưởng nóng giận bị tư tưởng ôn hòa đuổi ra khỏi Cái Trí.
          Đây là áp dụng nguyên tắc: Trong Trí không thể chứa đựng hai tư tưởng đối lập một lượt được.
          Thế nên ta phải dùng: Tư tưởng chơn thật để đánh đuổi tư tưởng tà vạy, tư tưởng hiền lương để đánh đuổi tư tưởng hung bạo, tư tưởng bác ái để trừ tuyệt tư tưởng ích kỷ v.v. . . . .
          Kiểm soát tư tưởng thì tham thiền rất dễ dàng và đi lần đến “Minh Tâm Kiến Tánh.”

TA HÃY LÀM THỬ MỘT BÀI TOÁN NÀY
          Dân số trên Địa Cầu ngày nay là bốn ngàn triệu hay là bốn tỷ.
          Mỗi ngày mỗi người tưởng 10 lần thôi thì ta có 40 tỷ tư tưởng. Mà trong 40 tỷ tư tưởng này có được bao nhiêu tư tưởng Từ bi, Bác ái, Cao thượng, Vị tha. E cho không tới 300 triệu, ta hãy cho nửa tỷ hay 500 triệu.
          Còn 39 tỷ rưỡi là tư tưởng tầm thường, vật dục, ích kỷ, chỉ biết có cá nhân mình mà không biết có cá nhân người khác.
          Đó là mới nói đến tư tưởng một ngày. Lấy số này nhân cho 30 thì ta có:
                   39 tỷ 5 x 30 = 1.185 tỷ trong một tháng.
          Nhân số này cho 12 tháng tức một năm, rồi 10 năm, rồi 20 năm thì ta sẽ thấy một số tư tưởng khổng lồ, hầu hết là những tư tưởng không tốt đẹp và rất đáng sợ nữa.
          Các nhà Huyền bí học đều biết rằng những tư tưởng đồng bản tánh với nhau thì hiệp lại và làm ra một hình tư tưởng rất lớn. Pháp môn gọi là Egrégore, sống lâu và mạnh mẽ vô cùng. Nếu bản tính nó hiền lương thì nó là một vị Phúc Thần ban ân huệ cho nhân loại. Trái lại, nếu bản tính nó hung dữ thì nó là một Đại Quỉ đi phá hại người đời và xúi dục thiên hạ làm ác.
          Mà thực sự trên đời này, ta chỉ gặp một vị Phúc Thần trong số cả trăm triệu Quỉ sống đang bay vởn vơ trên không trung. Điều này xảy ra từ thế kỷ này qua thế kỷ kia. Như vậy làm sao cõi đời tránh khỏi sự đau khổ được.

CHỚ NÊN NGHI NGỜ

          Chắc chắn là sau khi đọc những câu trả lời của Đức Phật với những  người Ka La Ma (Kalama) quí bạn vẫn thấy Đức Phật cũng dạy chỉ nên tin tưởng những điều có thật, những điều mà chúng ta suy xét kỹ lưỡng và kinh nghiệm rồi.
          Thường thường con người tưởng rằng kẻ khác có những ý nghĩ này, những ý nghĩ nọ, nhưng thực sự thì họ không có những ý nghĩ đó. Chỉ tại con người nghi ngờ mà thôi. Những tư tưởng như thế không phải là chơn chánh. Một cái tai hại khác nữa là tư tưởng này tăng thêm sức mạnh cho tánh xấu của kẻ khác đã có sẵn và đồng thời cũng làm nẩy nở mầm của những tánh xấu còn tiềm tàng trong lòng họ, làm cho họ càng ngày càng xấu thêm. Có khi những tánh xấu này làm hại họ chẳng những trọn đời này mà còn kéo dài đến kiếp sau nữa.
          Kẻ nghi ngờ đã mắc tội Trời mà còn dệt thêm Quả giữa họ và kẻ bị nói xấu. Mối nợ này trong một vài kiếp sau phải trả, không trốn tránh ngã nào cho khỏi.
          Thế nên chúng ta có bổn phận luôn luôn tưởng cho kẻ khác những tánh tốt lành, cao thượng, không nên nghĩ rằng họ có làm thầm lén những chuyện quấy quá, xấu xa, ô trược.
          Chúng ta phải sửa đổi cái tư tưởng lại, làm sao cho Cái Trí chúng ta chứa đựng toàn những tư tưởng chơn thật, nhân từ, thiện cảm, sùng tín. Được như thế thì một mặt chúng ta thâu nhận những ân huệ từ cõi cao ban xuống làm cho Tâm Trí chúng ta càng ngày càng thêm sáng suốt; một mặt chúng ta có cái khiên để che chở khỏi bị những mũi tên từ ngoài bắn vào. Những mũi tên này là những tư tưởng xấu ở ngoài, khi chúng nó đụng tới Cái Trí ta thì bị hất văng ra ngoài, bởi vì hai thứ rung động không hợp với nhau, phải dang ra xa.
          Chúng ta cũng nên biết điều này nữa. Trong Trí và Vía của người thường luôn luôn có những rung động xoay tròn giống như những cơn gió lốc nhỏ, màu sắc xấu xa, do những sự âu lo, buồn bực, sợ sệt, ham muốn quấy quá sinh ra. Vì vậy con người khó tự chủ được.
          Người có Huệ Nhãn nhìn ta thì biết rõ tánh tình ta tốt hay xấu, cao thượng hay thấp hèn.
          Vậy thì chúng ta phải học rành Luật Tư Tưởng rồi áp dụng nó vào đời sống hàng ngày mới tiến hóa mau và tránh được nhiều Quả xấu. 
CHƯƠNG THỨ SÁU
CHÁNH NGỮ (LỜI NÓI CHƠN CHÁNH)
          Một khi tư tưởng chơn chánh rồi thì lời nói và việc làm mới chơn chánh bởi vì tưởng trước rồi mới nói và làm sau. Nếu khi gặp một việc mà vụt làm liền không kịp suy nghĩ, là tại đã nghĩ việc đó mấy năm trước, mấy tháng trước, mấy ngày trước hoặc mấy kiếp trước nữa vì tư tưởng này đã ghi vào lưu tánh phân tử của Cái Trí rồi nay gặp sự kích thích, nó hoạt động liền ta trở tay không kịp. Mà thế nào là lời nói chơn chánh?
          Lời nói chơn chánh là lời nói dịu dàng, dễ thương, hữu ích, chính đính, hiền lương, không sai ngoa, không chuốt ngót, không khoe khoang, không dua nịnh, không bợ đỡ, không gian xảo, không gạt gẫm.
          Một lời nói có thể gầy dựng giang sơn đem hoà bình cho trăm họ, mà một lời nói cũng có thể làm nát cửa hại nhà, tiêu điều sự nghiệp, thây nằm chật đất, máu chảy thành sông. Một lời nói giết người được mà một lời nói cũng cứu người được.
          Một ngày kia, Đức Khổng Tử đến viếng một toà cổ miếu, thấy hình một người bịt miệng ba lớp khăn, Ngài bèn quay lại dặn dò các môn đồ: “Các trò khá cẩn thận trong lời nói.”
          Thiết tưởng cũng nên biết rằng lời nói là một cách rung động, nó cũng có hình dạng như tư tưởng.
          Đừng tưởng lời nói ra rồi nó mất đi. Không, nó vẫn còn đó mãi. Khi thốt ra lời thì tiếng nói nó truyền đi từ làng ra tỉnh rồi khắp hoàn cầu. Nó cũng như tư tưởng vậy song chậm hơn.
          Một bằng chứng cụ thể là khi ta mở Radio vặn đúng Đài thì nghe được tất cả những lời phát ra từ Âu, Á, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan v.v. . . . Nói tóm lại là khắp cả bốn phương trời.
          Có bạn bảo đó là nhờ những làn sóng điện truyền đi. Đúng vậy. Điện này là điện của con người tạo ra. Còn điện trên không gian là điện Trời còn mạnh hơn không biết bao nhiêu ngàn triệu lần điện của con người nhờ máy móc làm ra.
          Ít ai biết rằng lời nói cũng như tư tưởng, có quyền năng sáng tạo. Trong Sáng Thế Ký có nói: Đức Chúa Trời phán: Hãy có ánh sáng thì ánh sáng hiện ra. [8]
          Những câu Thần chú, những câu Chơn ngôn đọc cho đúng giọng thì chúng nó linh nghiệm phi thường, sức mạnh của chúng nó do những sự rung động mà ra. Tưởng cũng nên biết rằng: Vũ Trụ do những sự rung động tạo thành, ngày sau nó cũng bị những sự rung động mà tan rã.
          Trong quyển The Lidophone – Voice figures – tác giả là Magaret Watts Hughes có thuật những sự khảo cứu của Bà và những hình dạng của lời nói và có vẽ những hình đó ra nữa.

CHƯƠNG THỨ BẢY
CHÁNH NGHIỆP (VIỆC LÀM CHƠN CHÁNH)
          Việc làm chơn chánh là những việc làm không có tính cách ích kỷ, không có mưu tư lợi mà để kẻ khác khóc than, đau đớn vì mình.
          Phật dạy năm điều cấm là:
             Không sát sanh.
          –   Không trộm cắp.
          –   Không tà dâm.
              Không láo xược, gạt gẫm.
              Không say sưa. Ngày nay phải thêm thuốc điếu, thuốc phiện, các chất ma túy.
          Năm điều cấm này thuộc về Tịnh chứ không phải Động. Phải Động và Tịnh một lượt. Không giết người, hại vật song phải kính trong sinh mạng, tìm dịp giúp đỡ vì lòng nghĩa hiệp cứu khốn, phò nguy. Không lấy của ai, nhưng phải làm cho người có công ăn việc làm và sống một cuộc đời thong thả. Tránh điều hoa nguyệt, rượu chè mà phải tập luyện thân thể cho mạnh dạn. Người Đạo Phật phải thực hành phép Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã (Trí huệ), bởi chưng phép Lục Độ gồm cả Tịnh và Động thì mới có thể lần lần vén được những bức màn Vô Minh đang bao phủ chúng ta, không cho chúng ta thấy rõ ràng những điều phải thấy.
          Về việc làm chơn chánh, tôi nhớ lại một câu chuyện lý thú như sau đây:
          Một hôm các Tu sĩ phạm lỗi bị Viện Trưởng quở trách về Hạnh Kiểm tầm thường của họ. Họ nhao nhao lên:
          “Thưa Cha! Đó là lẽ tự nhiên. Thiên hạ đều làm như vậy mà.” Viện Trưởng trả lời một cách nhỏ nhẹ: “Các con! Ta tưởng chúng ta phải cố gắng sống một đời cao thượng và phi thường chứ!”
BA CHUYỆN CHỨNG CHẮC
LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM KHÔNG MẤT
          Trong quyển Nhân Quả tôi có nói về những Tiên Thiên Ký Ảnh là những hình bóng bất diệt của tư tưởng, lời nói và việc làm của con người.
          Tôi xin chép lại ba chuyện sau đây để chứng minh lời nói và việc làm không mất.
CÓ LẼ NGƯỜI TA KHÔNG DÁM LÀM DỮ NỮA.
HÌNH ẢNH VÀ VIỆC LÀM ĐÃ QUA
SẼ BỊ THU VÀO MÁY ẢNH.
       CHUYỆN THỨ NHẤT
          Chính một Kỹ sư người Anh ở Oxford tên là Georges de la Warr, 64 tuổi, đã tìm ra phương pháp thu được ảnh cuộc hôn lễ của ông trên 22 năm rồi. (Tin Tạp chí Paris Match số 97, ngày 27-1-1951).
          Theo ông thì không có thời gian chi cả. Những hành vi đã qua rồi vẫn còn tồn tại mãi bởi vì nó sinh ra những luồng sinh khí. Luồng sinh khí này giống hệt công việc xảy ra và theo luôn người đã hành động như bóng với hình, nhưng mắt người thường không thấy được.
          Cây cỏ, thú vật và loại kim đều phát sinh một luồng sinh lực ít nhiều tùy theo thể chất và năng lực của mỗi loài. Những cuộc thay đổi đều do một sự biến chuyển của một hoặc nhiều luồng sinh lực đó.
          Nhà Bác học Anh phát minh được một thứ máy ảnh để thu hình ảnh những việc đã qua và trước khi thu được cuộc hôn lễ của mình trên 22 năm rồi, ông có chụp được và in vào giấy những luồng sinh lực của bông hoa và kim khí. Hình rửa ra tuy không được rõ lắm nhưng ông có nói đây là bước đầu trong cuộc phát minh.

VĂN NHỨT

(Báo Saigon Mới số: 697 ngày 23-4-1951)

CHUYỆN THỨ NHÌ
          Một bước tiến vĩ đại của ngành nhiếp ảnh. Mười lăm phút sau vẫn còn chụp được bóng người đã khuất. (Chụp hình một chiếc ghế trống, có thể thấy được bóng của người ngồi trên đó 15 phút trước).
(Sưu tầm của Thiên Hương)
(Báo Tin Sáng số 804 ngày Chúa Nhật 9-10-1966 và Thứ Hai 10-10-1966)
          Xin chép ra đây đoạn chót cho quí bạn xem:

       ĐI KHỎI 15 PHÚT VẪN CÒN

CHỤP ĐƯỢC HÌNH

          Điều đáng nói hơn nữa là loại máy ảnh của Công Ty Barnes Engineering ở Stamford sáng chế có thể chụp được bóng người đã đi khỏi từ mấy phút rồi.
          Thật vậy, một người nào đó đã ngồi trên một chiếc ghế, rồi đứng dậy đi nơi khác. Mười lăm phút sau, người ta dùng chiếc máy ảnh hồng ngoại tuyên chụp chiếc ghế trống ấy, kết quả người ta vẫn thấy rõ ràng trong bức  ảnh lộ ra hình dáng người đã ngồi trên chiếc ghế ấy trước đó 15 phút.
          Thậm chí, người ta còn thấy rõ bóng người ấy đã ngồi trên chiếc ghế với dáng điệu thế nào nữa, hai chân gác chéo ra sao, y như chụp giữa lúc người ấy đang ngồi trên ghế vậy.
          Chưa hết, nếu người ta dùng chiếc máy ấy chụp một khoảng đất trống dành cho xe hơi đậu, người ta có thể đếm được bao nhiêu chiếc xe đã từng đậu ở khoảng đất ấy trước đó chừng một phút.
          Tôi tin rằng: Ngày sau các máy ảnh cải tiến rồi thì sẽ vượt hẳn cái máy ảnh của ông Georges de la Warr, nghĩa là chụp lại được những chuyện đã xảy ra cả thế kỷ trước.
          Tuy nhiên, bao nhiêu đây cũng đủ chứng minh rằng: “Tiên Thiên Ký Anh” có thật.
CHUYỆN THỨ BA
THUẬT PHÁP CỦA NHỮNG VỊ ĐẠO SĨ
PHA-KIA (FAKIR) BÊN THIÊN TRƯỚC SƠN BẰNG ÁNH SÁNG TRUNG GIỚI [9]
          Xong rồi ông Jaccob nói rằng: Tôi đã giúp vui các Ngài, bây giờ tới phiên các Ngài giúp vui lại tôi. Xin các Ngài thuật chuyện các Ngài đã làm hay đã thấy trong trận giặc mà các Ngài đã tham dự. Tôi rất thích nghe hành động của các vị anh hùng trong cơn giặc giã. Mà thật vậy, bốn người trong chúng tôi đều có kinh nghiệm ít nhiều trong lúc chiến tranh. Song theo luật nhà binh thì không được phép thuật lại cách hành binh, vì vậy không biết tính làm sao. Nhưng rốt cuộc, ông Thống Chế bắt đầu thuật lại công việc ở trong trận giặc Balakhava, vì trận giặc này chính là ông có dự vào. Ông nhắc lại cho chúng tôi nghe cách hành động oanh liệt của một tên lính thường rất tận tâm tận lực. Ông Jacob nghe và nhìn trân ông Thông Chế dường như bị ông này thôi miên. Rồi khi nghe dứt câu chuyện, không nói một lời nào, ông mới lấy trong túi ra một chiếc đũa phép và điều động chầm chậm ở trước miếng trám cây trên vách.
TRẬN GIẶC BALAKHAVA
          Điều động như vậy một lát thì có một thứ ánh sáng tím xanh lộ ra, nó xoay vần và sáng lần từ góc này qua góc kia ở trước mặt chúng tôi. Kế trong ánh sáng hiện ra Trận giặc Balakhava với đội binh chính giữa. Chúng tôi thấy ông Noland cỡi ngựa, lại nghe tiếng còi thúc giục tiến binh và sau rốt xáp trận. Chúng tôi lại thấy một ông quan võ bị tử thương và đạo binh ấy đang chống cự với súng thần công lớp chết, lớp tiến tới coi kịch liệt. Mỗi sự chiến đấu đều lập lại trước mặt chúng tôi cả. Chúng tôi thấy toán binh ấy lướt tới đoạt súng thần công rồi chạy trở về. Mà trong đám quân ấy, chúng tôi thấy mặt ông Thống Chế này rõ hơn hết. Chúng tôi thấy lúc họ trở về bị một bọn lính cầm đoản đao tốc rượt theo hai người, trong đó có ông Thống Chế (trong lúc này ông chưa lên chức ấy) cho đến khi ông bị một lưỡi gươm trên đầu lũng thấu cái nón của ông. Ông té quị xuống đất. Chúng nó thấy vậy bỏ ông và đuổi theo toán binh kia rất xa. Bỗng chút chúng tôi thấy ông rán gượng ngồi dậy và hút gió ra dấu kêu con ngựa đứng gần bên ông. Nó nghe kêu bèn chạy lại. Ông mới rán sức leo lên ngựa coi bộ khó khăn và đau đớn lắm. Rồi ông cho nó đi theo biên giới của địa phận Ăng-Lê được yên ổn. Còn chung quanh ông nào là tiếng la hét dậy trời, nào là khói bay mịt đất chẳng khác nào là một trận bão tố.
LÀM SAO NHỮNG SỰ ĐÓ LẠI HIỆN RA ĐƯỢC ?
          Khi ông Jacob quơ một vòng đũa phép của ông thì tất cả đều tiêu mất, chỉ còn thấy tấm trám cây mà thôi. Chúng tôi nhìn nhau lấy làm lạ, duy có một mình ông Thống Chế nói rằng: “Ôi! Thật là lạnh mình, xanh mặt.” Chúng tôi mới lấy thuốc ra hút đặng nghe thuật đến chuyện của người khác. Mỗi chuyện thuật rồi ông đều làm phép cho lộ ra trước mặt chúng tôi cả. Xong rồi chúng tôi mới cãi nhau. Vì sao hồi nãy thuật lại công cuộc trong trận giặc có nhiều đoạn bỏ qua không nghe nói tới. Đến khi ông Jacob làm phép thì chúng tôi thấy đủ hết không sót một mảy nào. Chúng tôi mới hỏi ông: “Chiến tranh đã xảy ra nhiều năm rồi, sao ông làm cho những việc ấy lộ ra được trước mặt chúng tôi một cách rõ rệt không bỏ sót một chi tiết nào vậy?” Ông Jacob bèn đáp: Mỗi việc xảy ra và choán một chỗ trong lịch sử hoàn cầu đều còn luôn luôn trong ánh sáng Trung Giới không bao giờ tiêu tan. Nếu người nào biết cách và biết phép thì có thể bất luận giờ nào, chỗ nào, đều làm cho nó hiện ra được cả. Vả lại những tiếng mà các Ngài nghe cũng vậy, chẳng khác nào những tiếng mà người ta thu vào trong đĩa hát. Dù mà người bị lấy tiếng đó chết đi đã lâu rồi, tiếng của họ cũng còn ghi mãi trong đĩa hát, muốn hát giờ nào cũng được tự ý mình cả, vì mọi sự hành động đều còn đời đời.
          Tôi bèn nói với ông những điều này rất phù hợp với giáo hóa của các nhà Pháp môn và tôi nói thêm rằng: Trong Tân Ước có câu: “Những điều gì đã hành động dù lành, dù dữ đều diễn lại.”
          Ông bèn nói: “Không có sự hành động nào mất cả và không khó gì mà làm cho hiện lại những điều đó.”
          Tôi tưởng bao nhiêu đây cũng đã đủ, tôi xin nói thêm, phải mở được Huệ Nhãn mới thấy mấy việc này, mới biết được sự thật ra sao.
CHƯƠNG THỨ TÁM
 CHÁNH MẠNG (NGHỀ NGHIỆP CHƠN CHÁNH)
          Nghề nghiệp chơn chánh là nghề nghiệp nuôi mình mà không làm tổn hại sinh vật (người và vật).
          Nói cho đúng bất luận nghề nghiệp nào, nếu không làm hết bổn phận, không làm tận tâm với chức nghiệp hay chỉ lo mưu lợi cho mình mà không đếm xỉa đến sự tổn hại và đau khổ của kẻ khác thì nghề nghiệp đó không còn là chơn chánh nữa.
          Trong Kinh Majjhima Nikâya bài 117 có câu này: Thói phản bội, bói toán kiết hung, gạt người, dở ngón xảo quyệt, cho vay nặng lời là những nghề nghiệp không chơn chánh.
          Trong Kinh Aguttara Nikâya (Tăng Nhứt A Hàm) bài 177 cũng có câu như vầy: Có năm nghề mà vị đệ tử phải tránh là:
          1 – Bán khí giới.
          2 – Bán sinh vật (người và vật).
          3 – Bán thịt.
          4 – Bán cá.
          5 – Bán rượu (Xin kể luôn các chất ma túy).
          Trong Kinh nói rành rẽ là mấy vị Sa môn không được làm mấy điều trên đây, chứ không phải mấy người thường. Về việc bỏ thịt cá, thì hiện giờ trừ một số ít, là những người đạo đức trường chay. Không thể nào ngăn cản được việc sát hại heo, bò, gà vịt. Tuy nhiên người ta có thể dùng cá, rau trái cây và bớt thịt lần lần. Tới ngày nào con người thực sự thức tỉnh và tự biết mình rồi thì ngày đó mới có thể nói tới việc chay lạt.
          Còn việc bói toán kiết hung, tôi xin bày tỏ ý kiến của tôi. Có hai hạng: Một hạng là những người đạo đức học được chơn truyền gọi là những Chiêm Tinh Sư, như những vị Mages ở Chaldée, Ba Tư. Các Ngài xem vị trí những hành tinh trên trời mà đoán được vận mạng của nước nhà và số phận của dân chúng. Các Ngài không cần làm toán. Khoa này ngày nay đã biến mất trên Địa Cầu vì không có người đủ tư cách đặng học hỏi nó.
          Còn Khoa Chiêm Tinh Tây Phương hiện đại cần biết ngày giờ, sớm mai hay chiều, kinh tuyến và vĩ tuyến chỗ con người sinh ra mới toán được. Khoa này rất khó khăn. Có năng khiếu mới học được. Tuy nhiên có hai phần: phần công truyền (Exotérique) và phần bí truyền (Esotérique). Phần công truyền nói một cách tổng quát về tánh tình, bệnh hoạn, những tai nạn và những sự may mắn có thể xảy ra, nhưng không định được số quả phải trả. Còn khoa bí truyền chỉ rõ trình độ tiến hoá tinh thần và trí tuệ của con người và luôn cả một dân tộc. Truyện Tàu cũng có nói nhiều vị Quân sư và nhiều vị ẩn mình trên non cao động cả biết xem sao như Từ Mậu Công, Gia Cát Lượng v.v. . . . .
          Fludd gọi những hành tinh là những ngón tay của Thượng Đế bởi vì khi chúng nó đi ngang qua những Cung Hoàng Đạo, chúng vẽ trên bầu trời những quyết đinh ghi trong quyển Bộ Đời và sự tiến hóa cho các vị thi hành Luật Nhân Quả xem đặng thực hiện Thiên Cơ.
    Khoa bói quẻ Diệc rất đúng.
          Khoa coi tay, coi tướng, không sai sự thật bởi vì trên gương mặt có những dấu hiệu và trong lòng bàn tay có những đường, chỉ rõ định mệnh của con người. Nhưng có định mệnh và cũng có tự do ý chí. Con người có thể dùng tự do ý chí sửa đổi một đôi phần số mệnh của mình.
          Rất tiếc là có một hạng người nữa mới học ở hai ba lớp chót của ban sơ đẳng, chưa kinh nghiệm, chưa biết rộng sâu mà ra làm Thầy coi tay, coi tướng, thì trong mười phần có thể đoán trật tới bảy, tám.
          Chắc chắn là trong Kinh nhắm vào hạng người này; chính họ làm cho các nhà trí thức không tín nhiệm Huyền bí học.

CHƯƠNG THỨ CHÍN
CHÁNH TINH TIẾN [10]
(SỰ CỐ GẮNG CHƠN CHÁNH)
          Điểm thứ sáu là cố gắng chơn chánh có nghĩa là rán sức đặng đạt cho được mục đích cao thượng của mình đã nhắm, phải tránh các tội lỗi đừng phạm. Phải tập mở các tánh tốt đặng tấm lòng mình trở nên trong sạch.
          Muốn thành công, phải tham thiền 12 đức tánh, mỗi tháng một đức tánh trong vòng 14 năm sắp lên. Tự ý chọn lựa đức tánh nào cũng được nhưng phải tập ba đức tánh đầu tiên là:
                   1 – Từ Bi Bác Ái.
                   2 – Bố Thí.
                   3 – Chơn Thật.
          Trong quyển Cách Tu Hành tôi có bàn đến sự luyện tập 12 đức tánh, mỗi tháng một đức tánh. Hết đức tánh thứ 12 thì trở lại đức tánh thứ nhất. Phải tiếp tục không gián đoạn 14 năm như vậy. Qua năm thứ 15 và từ đó về sau, mỗi ngày mỗi nhớ mình là Chơn Thần có đủ 12 đức tánh ấy.
          Sự tập luyện tánh tình đòi hỏi một thời gian rất lâu từ kiếp này qua kiếp kia. Cho đến chừng nào thành một vị Siêu Phàm thì mới bước qua con đường khác.  Nên khởi sự ngay bây giờ vì kiếp này là kết quả của kiếp trước, kiếp sau là kết quả của kiếp này. Luật Nhân Quả vốn bất di bất dịch, mặc dù ta không thấy nó hành động ra sao. Sự công bình của nó không sai chạy một mảy lông.
          Đó là một phương diện. Còn một phương diện khác nữa.
          Mỗi người trong chúng ta đều có một mớ sức lực bị hạn chế trong Xác Thân và trong Cái Trí. Phải biết sử dụng sức lực này trong công việc hữu ích hàng ngày không nên phung phí một cách vô lối mà có hại cho mình.
          Chúng ta làm chủ gia đình thì có ảnh hưởng lớn với vợ con, những người giúp việc và bạn bè thân thích. Phải cố gắng sống một đời sống cao thượng xứng đáng với địa vị của chúng ta. Không nên treo gương không tốt mà để tiếng đời. Chúng ta có nhiều công việc phải làm. Phải xem xét coi cái nào gấp, cái nào huỡn, cái nào cần phải làm trước, cái nào phải làm sau, cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít.
          Sự cố gắng này rất chơn chánh, và đòi hỏi một sự kinh nghiệm dài lâu. Phải bền chí mới thành công. Phải có nghị lực mới san bằng được cái trở ngại.
          Tôi tưởng phải nói thêm rằng: mấy anh theo con đường Tà Đạo cố gắng hơn chúng ta rất nhiều song sự cố gắng đó đem lại sự ích kỷ hại nhơn. Vì vậy Phật mới dạy Cố gắng Chơn chánh.

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI

CHÁNH NIỆM (SỰ TƯỞNG NHỚ CHƠN CHÁNH)
          Người ta thường cho rằng sự tưởng nhớ chơn chánh là nhớ lại kiếp trước. Nó cũng có nghĩa đó, nhưng trước hết nó nhắc cho ta nhớ ta là ai? Ta có bổn phận nào thường ngày đối với ta, đối với đạo đức và xã hội nhơn quần.
          Kế đó ta nên nhớ những việc vui vẻ, những việc ích lợi cho đời. Ta không nên nhớ những những việc buồn bực, sầu não đã đến cho ta. Ta phải quên hết những lời người ta gièm pha mình, nói hành mình, làm hại mình. Trái lại ta phải chúc phước lành cho họ.
          Pháp Cú (Dhammapada) trong chương đầu những Kinh đôi câu 3 và câu 4 như vầy:
          3 – Người nào tưởng trong trí như vầy:
          Nó mắng nhiếc tôi, nó hà hiếp tôi, nó làm nhẹ thể tôi, nó ăn trộm của tôi, thì lòng oán hận không khi nào nguôi được.
          4 – Người nào trong trí không khi nào tưởng như vầy:
          Nó mắng nhiếc tôi, nó hà hiếp tôi, nó làm nhẹ thể tôi, nó ăn trộm của tôi, thì không hề oán hận nữa.
          Thật quả như vậy. Lấy oán báo oán, cái oán không tiêu, lấy ân đáp oán, cái oán mới dứt. Ấy là Luật Thiên Nhiên muôn kiếp ngàn đời không thay đổi.
Chúng ta cũng nên nhớ hai câu này:
   Nhẫn, nhẫn, nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận;
                        –   Nhiêu, nhiêu, nhiêu, thiên tai vạn họa nhất thời tiêu.
          Chúng ta chớ nên bươi lại đống tro tàn của dĩ vãng, nó chứa đựng những cặn bã hầu hết chẳng tốt đẹp chút nào. Điều này không khác nào chúng ta đi đường, gặp rác rến, miểng chai, lượm rồi dồn vô túi. Hãy đề phòng.
          Nhớ tới mấy điều này thì tâm ta xao động. Ta làm sống lại những hình tư tưởng của quá khứ đã chết mấy chục năm rồi. Chúng nó chỗi dậy và phá lại ta trong một thời gian. Hãy thận trọng.
          Cái chi qua rồi đã qua. Ta không thể sửa đổi cái chi được. Điều hay hơn hết là để cho nó tan mất trong đám sương mù của dĩ vãng.
          Phải lo cho hiện tại đặng gầy dựng một tương lai tốt đẹp hơn người.
          Hãy sống trong trường tồn bất diệt với Đức Thượng Đế.
          Người tu hành, đi, đứng, nằm, ngồi, đều phải nhớ tới Đạo, nghĩ tới Đạo, không bao giờ quên Đạo. Phải làm một với Đạo. Đó là Chánh niệm.


CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT

CHÁNH ĐỊNH (ĐỊNH CHƠN CHÁNH)
          Lẽ thứ tám của Đạo Bát Chánh là Samyak Samâdhi giống như giai đoạn thứ tám của Raja Yoga, nó cao hơn Thiền một bậc. Ngũ giới của Phật dạy đâu có khác nhiều với Yama, Giới đầu tiên của Raja Yoga. Muốn Tham Thiền trước hết phải tập Định Trí. Làm chủ Cái Trí được rồi mới có thể điều khiển tư tưởng theo ý muốn. Nói rất dễ, hành rất khó. Hãy thử tập Định Trí mới biết tánh nết Cái Trí là thế nào. Luyện tập trong một thời gian mười năm không gián đoạn mà làm chủ được năm phần mười Cái Trí cũng là giỏi lắm rồi. Tới chừng đó, có thể nói Tham Thiền bắt đầu có hiệu quả.
          Mới nhập Đạo, chưa biết cái chi hết mà bắt ngồi Thiền liền thì chắc chắn không bao giờ có cái kết quả như ý muốn. Ai có kinh nghiệm rồi thì biết.
          Tham Thiền chưa xong thì khoan nói tới việc Đại Định. Rất vô ích, không đi đến đâu cả. Nếu suy nghĩ cho sâu xa thì thấy Đức Phật rất chu đáo trong việc dạy Đạo Bát Chánh, đặng mở Tâm và mở Trí của Hành giả và dắt họ đi lần tới cửa Đạo mà họ không ngờ. Như:
          1  –   Chánh kiến       : tức là mở Trí đặng phân biện.
           2  –   Chánh tư duy    : mở Trí rồi phải làm chủ tư tưởng
          3 –   Chánh ngữ         : là mở Tâm, làm chủ lời nói.
          4 –   Chánh mạng       : tập rèn tánh nết cho thật tốt.
          5 –   Chánh nghiệp      : làm chủ những việc làm.
          6 –   Chánh tinh tiến    : cố gắng, bền chí đi tới.
        7 –   Chánh n                            7 -   Chánh niệm         : không nhớ lại quá khứ, chỉ lo tròn bổn  phận hàng ngày.
          8 –   Chánh định          : tập chiêm ngưỡng.
          Thực hành bảy lẽ chánh từ Chánh kiến đến Chánh niệm cho đúng đắn, mỗi đức tánh trên mức Trung bình một chút thì sẽ được một vị Chơn Sư A-Sơ-Ca thâu nhận làm đệ tử đặng dạy dỗ và chỉ bảo phương pháp luyện tập đặng anh bước vào cửa Đạo một thời gian sau.
          Tới chừng đó sẽ biết Chánh định hay Đại Định là sao. Mỗi người tự mình hành rồi tự mình biết chứ không thể nói ra được. Đó là việc riêng của mỗi người, không ai giống ai cả.
          Có một điều chắc chắn quí bạn sẽ thấy trong sách chỉ bàn về lý thuyết, còn về phương diện thực hành thì không hề đá động đến. Điều này rất dễ hiểu, là bởi sự tiến hóa của các Hành giả không đồng bậc với nhau thì lẽ tự nhiên một phương pháp không thể áp dụng cho tất cả mọi người.
          Tưởng cũng phải nói là người dạy Thiền có ít lắm là Thần Nhãn, có được Huệ Nhãn càng hay. Bởi vì Hành giả ngồi Thiền thì Huấn Sư phải mở Huệ Nhãn coi y có làm đúng phương pháp hay không. Nếu sai thì chỉ cách sửa đổi liền.
          Năm 1937, vị Đại Sư Huynh của chúng tôi là Đức Raja, sau khi du lịch bên Nhật Bản, trở về Saigòn ở vài ngày, Ngài nói với chúng tôi rằng, một hôm, Ngài tới viếng một cái Chùa[11] nhằm lúc các chú Tiểu ngồi Tham Thiền, vị Trụ Trì cầm cây quạt đi chung quanh. Khi thấy chú Tiểu nào lo ra thì ông lấy cây quạt để nhè nhẹ trên vai đặng thức tỉnh chú. Nghĩa là ông này có Thần Nhãn.
          Mấy chú Tiểu mới tu, nên có thể dùng Thần Nhãn đặng quan sát ý tưởng của họ.
          Nếu gặp trường hợp những người học Đạo lâu năm, có những tư tưởng trừu tượng thì phải mở tới Thượng Thiên Nhãn hay là Huệ Nhãn mới xem xét được.
          Nếu chưa có Thần Nhãn thì đừng dạy người ta ngồi Thiền hay là điều khiển một cuộc ngồi Tham Thiền. Chỉ nên khuyên người ta tập trung tư tưởng vào một vấn đề đặng tìm hiểu hết ý nghĩa của nó.
          Các nhà Khoa học phát minh ra được những máy móc tối tân là nhờ họ suy nghĩ mãi về vấn đề mà họ tìm giải đáp trong nhiều tháng, nhiều năm, không bỏ qua việc Định Trí ngày nào cả.
          Rõ ràng họ đã Giác Ngộ, nhưng về phương diện vật chất chứ chưa về phương diện tinh thần. Họ Tham Thiền mà họ không biết rằng họ Tham Thiền. Họ cứ nói là họ suy nghĩ mà thôi.

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI

ĐẠO BÁT CHÁNH LÀ CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO

          Đạo bát chánh là con đường Trung Đạo, ở chính giữa thói xa hoa phóng túng của người đời và cách tu khổ hạnh của nhiều nhà tu hành như các Đạo sĩ Pha-kia (Fakir) bên Ấn Độ. Bất cứ là ai, già trẻ, bé lớn đều có thể thực hành Đạo Bát Chánh, không nhiều thì ít, tỷ như:
          1 – Một trẻ nhỏ tin có Trời Phật, Thánh Thần là tín  ngưỡng chơn chánh (Chánh kiến).
          Nó cứ lo nghĩ đến sự học, siêng năng, cần mẫn, tức là có Tư tưởng chơn chánh (Chánh tư duy).
          Nó ngay thật, có sao nói vậy thì lời nói của nó chơn chánh (Chánh ngữ).
          Nó lấy đồng tiền bát gạo cho người ăn xin tật nguyền là làm việc chơn chánh (Chánh nghiệp).
          Nó rán sức học hỏi cho thành tài, có một nghề nghiệp nuôi thân, tức là cố gắng chơn chánh (Chánh mạng và Chánh tinh tiến).
          Nó nhớ công ơn Thầy dạy dỗ và để vào lòng những lời khuyên bảo của các vị Thánh Nhân, Hiền Triết, tức là tưởng nhớ chơn chánh (Chánh niệm).
          Nó suy nghĩ đặng làm một bài toán, một bài luận văn, tức là Thiền chơn chánh, mặc dù nó chưa biết Đại Định hay xuất thần là sao.
          Nó thực hành Đạo Bát Chánh trong phạm vi nhỏ bé của nó.
          2 – Một người công nhân, thợ thuyền đến xưởng hay nhà máy làm việc.
          Anh tin vào số phận của anh (Tín ngưỡng chơn chánh).
          Anh tưởng đến công việc của anh phải làm cho tròn (Tư tưởng chơn chánh).
          Anh thành thật, lời nói của anh ngay thẳng (Chánh ngữ).
          Anh không làm hư hao máy móc hay đồ vật của Hảng, anh giữ gìn khí cụ hầu để dùng được cho lâu (Chánh nghiệp). Anh chọn cái nghề nghiệp hợp với anh, anh cố gắng học hỏi thêm và kinh nghiệm hầu càng ngày càng giỏi hơn. Anh sẽ giúp cho Hảng nổi tiếng và làm cho khách hàng đẹp lòng (Chánh mạng và Chánh tinh tiến).
          Luôn luôn anh nhớ tới trách nhiệm nặng nề của anh, không làm việc cẩu thả mà mất lòng tin cậy của chủ và khách hàng (Chánh niệm).
          Anh tìm những phương pháp sản xuất nhiều và đẹp hơn trước, được bao nhiêu hay bấy nhiêu tức là đi lần lần tới Chánh định.
          Anh thực hành Đạo Bát Chánh tùy duyên tùy phận mà không ngờ chút nào.
          Đạo Bát Chánh không khó, chỉ tại lòng người khó là cứ chiều theo tánh ích kỷ, chỉ biết quyền lợi cá nhân, không hề nghĩ đến những sự khó khăn do mình gây ra cho kẻ khác.
          Thế nên ngày nào tánh ích kỷ còn thì ngày đó sự đau khổ chưa dứt tuyệt trên cõi đời này. 
HẾT QUYỂN 1

 

ĐÂU LÀ CHÂN LÝ(QUYỂN 2)

PHẦN NHÌ

PHẬT GIÁO BÍ TRUYỀN


CHƯƠNG THỨ NHẤT
CON ĐƯỜNG NHẬP MÔN CỦA
PHẬT GIÁO BÍ TRUYỀN
          Con đường Nhập môn của Phật giáo Bí truyền gồm 5 giai đoạn:
          1 –  Giai đoạn thứ nhất Manodyaravajjana: nghĩa là Mở cửa Trí khôn hay là thoát ra do những cửa của Trí khôn.
          2 –  Giai đoạn thứ nhì Parikamma: Chuẩn bị để hành động.
          3 –  Giai đoạn thứ ba Upacharo: Chủ ý hay là hạnh kiểm.
              Cũng gồm 6 đức tánh:
                   a – Samo: Tư tưởng yên tịnh và trong sạch.
                   b – Damo: Kiểm soát giác quan và thân thể.
                                          c – Uparati: Đình chỉ cũng có nghĩa là khoan dung.
                   d – Titikha: Nhẫn nại hay là khoan dung.
                   e – Samadhâna: Sức mạnh của sự chú ý.
                   f –  Saddha: Đức tin.
          4 –  Giai đoạn thứ tư Anuloma:Thứ tự trực tiếp hay là sự liên tục, nối tiếp.
          5 –  Giai đoạn thứ năm Gotrabhu: Đủ tư cách, đủ năng lực để được  Điểm Đạo.
CON ĐƯỜNG NHẬP MÔN CỦA ẤN ĐỘ GIÁO
          Con đường Nhập môn của Ấn Độ giáo chia ra làm 4 giai đoạn:
          1 –     Giai đoạn thứ nhất Viveka: Phân biện.
          2 –     Giai đoạn thứ nhì Vairagya: Đoạn tuyệt.
          3 –     Giai đoạn thứ ba Shatsampatti: Gồm 6 đức tánh thuộc về năng lực trí thức.
                   a – Shama: Kiểm soát Cái Trí.
                   b – Dâma: Kiểm soát giác quan và thân thể.
                   c – Uparati: Khoan dung.
                   d – Titiksha: Kiên nhẫn.
                   e – Shraddha: Đức tin.
                   f –  Samadhâna: Điềm tỉnh.
          4 –   Giai đoạn thứ tư là Mumukshatva nghĩa là muốn được giải thoát.
                        CON ĐƯỜNG NHẬP MÔN CỦA CUỐN DƯỚI CHƠN THẦY
          Cũng chia làm 4 giai đoạn:
          1 – Giai đoạn thứ nhất Viveka: Phân biện.
          2 – Giai đoạn thứ nhì Vairagya: Đoạn tuyệt.
          3 – Giai đoạn thứ ba La bonne du conduite: Hạnh
                kiểm tốt.
          Giai đoạn thứ ba cũng gồm sáu đức tánh:
                   a – Tự chủ trong lúc tư tưởng.
                   b – Tự chủ trong lúc hành động.
                   c – Khoan dung.
                   d – An phận.
                                          e – Đi thẳng tới mục đích hay chú định vào  mục tiêu.
                   f –  Lòng tin cậy.
          4 – Giai đoạn thứ tư Amour: Lòng Từ ái.
          Những đức tánh này tuy có tên khác nhau song giải thích ra thì vẫn đồng nghĩa với nhau, bởi vì Chân lý vẫn là một.

     CHƯƠNG THỨ NHÌ
BỐN GIAI ĐOẠN CỦA CON ĐƯỜNG NHẬP MÔN CỦA PHẬT GIÁO BÍ TRUYỀN
          Xin giải đáp một cách tổng quát 4 giai đoạn của Con đường Nhập môn của Phật giáo Bí truyền như sau đây:
          1 – Giai đoạn thứ nhất Manodyaravajjana: Mở cửa Trí khôn, có lẽ có nghĩa là: Thoát ra do cửa của Trí khôn.
          Sinh viên phải học hỏi rộng sâu đặng mở mang trí hóa. Có khôn ngoan và có kinh nghiệm rồi mới thấy những vật quyến rũ nhất ở thế gian vốn có một giá trị tương đối, chứ không phải tuyệt đối. Chúng nó hữu dụng trong một thời gian, bất quá là trong một đời mà thôi. Chúng nó vốn phù du mộng ảo, chứ không vĩnh viễn trường tồn.
          Nhưng sinh viên phải trải qua một thời gian khá lâu, phải học hỏi những bài học cay đắng, đau thương trước khi thấy được sự tiến bộ thực sự.
          Đức tánh này Ấn giáo gọi là Viveka tức là Phân biện.
          Sinh viên phải tự biết mình trước nhất. Phải quả quyết thật mình là Chơn Thần, nói cho dễ hiểu, mình là Linh Hồn ở trong Xác Thân. Mình không phải   là Xác Thân như bấy lâu nay con người vẫn lầm tưởng và đồng hóa với nó.  Linh Hồn dùng Xác Thân để hoạt động tại cõi Trần trong một thời gian. Linh Hồn không đói, không khát, không cần nghỉ ngơi, không đau ốm, bệnh hoạn. Chính là Xác Thân mắc phải mấy điều này. Vì thế đừng lầm lộn thật mình với Xác Thân.
          Con người cũng không ngờ rằng ngoài Xác Thân của mình còn hai thể khác nữa.
          Một thể gọi là Cái Vía để biểu hiện ý muốn và tình cảm.
          Một thể gọi là Cái Trí để học hỏi, phân biện, xét đoán, tưởng tượng, ghi nhớ. Thân, Vía, Trí là ba Thể của con người thường dùng hàng ngày.
          Phật giáo có dùng ba danh từ: Thân, Ý, Trí.
          Ý đây là Cái Vía, nhưng không giải rành rẽ tánh nết của chúng nó và cách sử dụng chúng nó. Đó là chỗ khuyết điểm lớn lao cần phải bổ túc. Người tu hành phải biết sửa trị ba thể này và điều khiển chúng nó theo đường ngay, nẻo chánh, đúng với Thiên Ý. Chưa làm chủ chúng nó được thì không thể nào Định Trí, Tham thiền, không thể nào hành động đúng với lẽ Đạo. E cho tốn nhiều công phu mà cái kết quả vẫn không được đẹp lắm. Nỗi e nếu ham những phép thần thông, lạc qua đường Bàng Môn Tả Đạo thì các nguy hại sẽ cực kỳ lớn lao và nó còn kéo dài tới nhiều kiếp sau nữa.
          Đúng như lời ông Thánh Phao Lồ (Saint Paul) đã nói: “Không ai có thể bước vào đường Đạo nếu không cương quyết yêu mến những vật ở trên Trời chứ không phải những vật ở dưới đất.” (Epêtres Aux Colossiens III, 2).
          2 – Giai đoạn thứ nhì Parikamma: Chuẩn bị để hành động.
          Những Luật Trời hành động chung quanh chúng ta ngày đêm không ngớt.
          Có không biết bao nhiêu sự rung động mà chúng ta không hay biết chi cả, bởi vì chúng ta chưa nhạy cảm, chưa ứng đáp được với những sự rung động cao nên chúng ta cần phải học hỏi sâu xa những Luật Trời còn ẩn tàng như:
          – Luật Nhân Quả, Luân Hồi.
          – Luật Tư Tưởng.
          – Luật Tiết Điệu.
          – Luật Tuần Hoàn.
          – Luật Mở Mang Tâm Thức.
          – Luật Tiến hóa.
          – Luật Thăng Bằng.
          – Luật Rung Động.
          – Luật Thay Hình Đổi Dạng.
          – Luật Hy Sinh.
và nhiều Luật khác nữa, rồi áp dụng chúng vào đời sống hàng ngày.
Sinh viên phải:         Tinh luyện Xác Thân,
                              Tinh luyện Cái Vía,
                              Tinh luyện Cái Trí,
đặng cho chúng nó trở nên thanh khiết, nhẹ nhàng. Chúng nó mới thu được dễ dàng những ảnh hưởng tốt đẹp từ những cõi cao đưa xuống.
          Sinh viên phải tập mở mang đức hạnh. Khi làm những việc lành, việc phải thì không mong hưởng cái kết quả. Anh hồi hướng công đức cho Thầy anh, cho Đức Bồ Tát, cho Đức Phật. Anh lãnh đạm với sự khen ngợi hay là chê bai của người đời vì họ không hiểu anh.
          Đây là hậu quả của sự Phân Biện. Một khi đã sáng mắt, thấy được tính cách phù du mộng ảo của những sự ban thưởng dưới cõi Trần thì Tân tín đồ không còn cần dùng chúng nó nữa. Anh chỉ biết làm cho tròn bổn phận, đối với lẽ Đạo mà thôi.
          Linh Hồn, nhờ ánh sáng của sự thật soi sáng thì  biết rõ tính cách thấp hèn của những sự ham muốn quấy quá cho nên không bị chúng nó vương vấn nữa, sinh viên giải trừ tất cả tức là cổi bỏ lớp áo bợn nhơ đã mặc ở ngoài.
          Giai đoạn thứ nhì này Ấn giáo gọi là Vairagya: Đoạn tuyệt.
          3 – Giai đoạn thứ ba: Upacharo.
          Upacharo giống như Shatsampatti của Ấn giáo. Nó gồm có 6 đức tánh (theo Nam Phạn):
          a – Samo: Trí yên tịnh, tức là tư tưởng trong sạch và yên tịnh.
          Sinh viên hoạt động được hai điều kiện này chỉ khi nào làm chủ được Cái Trí, điều này đâu phải là chuyện dễ dàng.
          Xin nhắc lại lời nói của Arjuna bạch với Sư Phụ Ngài là Đức Krishna về Cái Trí:
          “Bạch Sư Phụ Krishna! Cái Trí loạn động, buông lung, mãnh liệt, khó mà kiềm hãm nó như khó mà kiềm hãm gió vậy.”
          Đức Krishna trả lời như vầy:
          “Lẽ dĩ nhiên, hỡi người chiến sĩ võ trang hùng hậu. Cái Trí nghịch ngợm và khó trị, nhưng người ta có thể thắng phục nó nhờ một sự luyện tập không ngừng và nhờ tánh lãnh đạm. Không còn cách nào nữa.”
          Người học Đạo đều biết Cái Trí rất lao chao không chịu định vào một chỗ nào cho lâu, nó buông cái này bắt cái kia liền.
          Nó còn phách lối kiêu căng, khi nhân, ngạo vật và chia rẽ: “Ta khác hơn người.” Hơn nữa Cái Trí con người giống như cái quán trọ, còn tư tưởng ở ngoài là khách lữ hành. Người này tới ghé vào quán đặng nghỉ ngơi trong năm, ba phút rồi ra đi kế người khác tới. Cả ngày không biết là mấy chục người. Con người lấy tư tưởng của người khác làm tư tưởng của mình. Như vậy thì làm sao Cái Trí yên lặng và tư tưởng được trong sạch.
          Sinh viên phải học phương pháp điều khiển Cái Trí. Trước nhất là phải tập trung tư tưởng vào một chỗ cho lâu. Dù Cái Trí bắt ta nhớ tới chuyện này chuyện kia cũng đừng nghe theo nó. Cứ bắt nó trụ vào việc ta đang lo xong rồi mới nghĩ tới chuyện khác. Phải nuôi dưỡng trong trí những tư tưởng Từ bi, Bác ái, cao thượng, vị tha, không nên nhớ tới những tư tưởng xấu xa, thấp hèn, oán ghét, mà chúng ta sẽ làm cho tấm lòng ta trở nên nhơ bợn. Phải tập luyện từ 15, 20 năm như vậy thì mới bắt đầu thấy kết quả tốt đẹp, rồi phải tiếp tục trọn kiếp này và nhiều kiếp sau nữa, cho tới khi nào thành một vị Siêu Phàm. Cái Trí yên lặng chứng tỏ rằng con người đã tự chủ được và  có thể làm việc đắc lực trên cõi Trung Giới là nơi có không biết bao nhiêu ảo ảnh hiện ra để gạt gẫm những kẻ chưa có kinh nghiệm và còn non lòng nhẹ dạ.
          b – Damo: Kiểm soát giác quan và thân thể. Kỷ luật của hạnh kiểm.
          Damo là hậu quả của Samo, chắc chắn quí bạn còn nhớ những đoạn giải về Chánh ngữ. Ở đây xin nhắc lại mấy điều đó.
          Khi tư tưởng chơn chánh thì lời nói và việc làm chơn chánh, tức là việc làm luôn luôn tùy thuộc tư tưởng. Đây có nghĩa là người ta tưởng trước rồi mới hành động sau.
          Quả thật có khi người ta hành động liền mà không kịp suy nghĩ. Vì lý do nào? Ấy tại người ta tưởng tới việc đó, muốn việc đó mấy tháng trước, mấy năm trước có khi cả kiếp trước nữa.
          Tư tưởng có ghi trong Lưu tánh Phân tử, cũng gọi Phân tử Trường tồn của Cái Trí, hay là ghi vào Nguyên tử Trường tồn của Cái Vía khi có pha tình cảm vào đó.
          Nó nằm yên đó. Khi có một sự rung động ở ngoài hợp với nó, tới kích thích nó, thì nó liền biến thành sự hành động liền. Con người trở tay không kịp.
          Vì thế mà các vị Thánh Nhân đều dạy con người khi sinh ra một tư tưởng xấu thì phải tiêu diệt nó liền. Diệt nó tức là tưởng tới một tư tưởng đối lập với tư tưởng xấu của mình muốn sinh ra.
          Thí dụ ta vừa muốn giả dối thì lập tức ta phải nói trong  vài phút: “Tôi   rất thành thật. Tôi rất ngay thẳng.” Tư tưởng thành thật, ngay thẳng xua đuổi   tư tưởng giả dối ra khỏi Cái Trí. Nó không ghi vào Phân tử Trường tồn của Cái Trí được.
          Về mấy tánh xấu kia cũng vậy. Phải dùng những tánh tốt đối lập với chúng đặng đánh đổ chúng. Tuy nhiên, muốn chắc ý thì phải tham thiền những tánh tốt, mỗi tháng tập một tánh, 14, 15 năm như vậy rồi trọn đời cứ nhớ mãi những tánh tốt đó. Mấy kiếp sau cũng phải luyện tập như vậy bởi vì kiếp này là kết quả của kiếp trước, kiếp sau là kết quả của kiếp này. Các kiếp Luân Hồi giống như những hột ngọc xỏ vào một sợi dây.
          Về đức tánh thứ nhì Damo xin quí bạn xem đoạn này trích trong quyển Con Đường của Người Đệ Tử, trang 90 của Đức Bà A. Besant:
          “. . . . . . . Quí Huynh có để ý rằng khi người ta bàn luận những vấn đề theo quan điểm Huyền bí thì chúng nó bị hiểu ngược lại đối với quan điểm hồng trần. Mọi người ở thế gian này đều chú trọng đến hạnh kiểm hơn là chú trọng đến tư tưởng. Trái lại những nhà Huyền bí học để tư tưởng lên trên hạnh kiểm. Nếu tư tưởng chơn chánh thì lẽ tự nhiên phẩm hạnh sẽ được thanh cao. Nếu tư tưởng có kỷ luật thì chắc chắn hạnh kiểm sẽ được kiểm soát kỹ lưỡng và được hướng dẫn trúng cách.
          Cái trạng thái hữu hình tức là sự Hành động chỉ là sự Phô diễn của tư tưởng thầm kín, nó khoác cái lớp áo bề ngoài mà chúng ta gọi là sự Hành động trong trong thế giới hữu hình này, nhưng các bản chất của nó là sản phẩm của đời sống nội tâm và cái hình hài của nó được đóng trong cái khuôn do tinh lực làm ra mà tinh lực mới là kẻ thực sự tạo ra hình hài đó.
          Thế giới Vô hình, cõi Thượng Thiên là thế giới của những nguyên nhân, còn Thế giới Hữu hình, cõi Hạ Thiên chỉ là thế giới của những hiệu quả.
          Vì vậy sự giữ gìn tư tưởng cố nhiên phải phát sinh ra cái hiệu quả là kỷ luật của Hành động. Hành động  chỉ là sự biểu hiện tự nhiên và không tránh khỏi của Tư tưởng.
          c – Uparati: Đình chỉ cũng có nghĩa là Khoan dung.
          Đình chỉ có nghĩa là không còn mê tín, không còn tư tưởng dị đoan, không tin rằng một cuộc lễ bái nào đó của một Tôn giáo có thể cứu rỗi được con người và không còn làm những việc bất thiện nữa.
          Nói tóm lại, Đình chỉ là dứt tuyệt những tư tưởng, ý muốn, những lời nói và những hành động sái quấy, ác độc.
          Tất cả những điều nào trái với Luân thường Đạo đức dù đem đến cho ta muôn vàn lợi lộc đi nữa ta cũng không làm. Đây mới thật là Đình chỉ và nhờ thế tấm lòng ta mới được trong sạch.
          d – Titikkha: Nhẫn nại, Kiên nhẫn.
          Nhẫn nại đây là vui lòng nhận lãnh tất cả những gì mà Nhân Quả đưa đến, không hề than thở, không hề trách móc những kẻ gây ra những sự đau khổ. Những sự mất mát tiền bạc, của cải, những sự đau ốm, bệnh tật, những lời nói hành nói vu, là những món nợ do ta đã gây ra kiếp này hay kiếp trước.[12] Khi chúng nó tới đòi thì phải thanh toán cho rồi đặng nhẹ mình. Nếu không trả kiếp này thì kiếp sau cũng phải trả. Nên trả càng sớm càng tốt vì được mau rảnh rang. Nếu ta gieo nhân nhiều thì sẽ gặt quả nhiều.
          Thử hỏi ta gặp nghịch cảnh, ta giận hờn, ta có giải quyết  cái gì được không? Hay là làm cho ta thêm rối trí.
          Đây là tánh An phận đã có kể trong quyển Dưới Chơn Thầy.
          Những chuyện đã qua rồi ta không thể sửa đổi được  nhưng ta có thể sửa đổi những việc làm hiện tại đặng cho chúng nó tạo ra một tương lai tốt đẹp. Điều này không có chi là khó khăn, chỉ sửa đổi mục đích của việc làm mà thôi. Lấy cái tốt thay thế cái xấu, cái dở sẽ biến thành cái hay.
          Nhưng nói rất dễ, hành rất khó. Phải tự khắc kỷ và bền bĩ chịu đựng trong một thời gian khá lâu từ 15, 20 năm, cho có thói quen sau mới thấy dễ dàng.
          Mười lăm năm, hai mươi năm, mới nghe qua thấy nó lâu lắm, nào hay nó tới một bên chân mà người ta không ngờ đến. Nếu ngày nay không ra công thì 15, 20 năm sau nhớ lại những điều mình làm được mà không làm và thấy con người mình không có thay đổi ra mới bao nhiêu thì sẽ hối tiếc. Một nỗi khác, e cho tuổi cao, tác lớn không còn đủ sức lực và phương tiện để thực hành cho có hiệu quả những điều mình muốn.
          Thôi, phải chờ kiếp sau, mà ai dám quả quyết là kiếp sau sẽ có những cơ hội tốt như kiếp này. Bởi vì kiếp sau ta phải trả một số quả còn dư lại của mấy kiếp trước gọi là quả chồng chất, hiệp lại với số quả của ta đã gây ra kiếp này. Ai biết ta sẽ được tốt số hay là xấu số.
          Điều hay hơn hết là chụp lấy cơ hội tốt đưa đến rồi thực hành và bền chí đi tới thì có thể tin được rằng: Kiếp sau ta sẽ không tệ hơn kiếp này.
KHOAN DUNG
Chữ rằngnhẫn nhục niệm hòa,
Nhẫn điều khó nhẫn mới là chơn tu.”
(Quan Âm Thị Kính)
          Nhẫn, nhẫn, nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận.
          Nhiêu, nhiêu, nhiêu, thiên tai vạn hoạ nhất thời tiêu.
          Còn về sự Khoan dung thì phải tập tha thứ những việc lỗi lầm, khoan dung từ cử chỉ, từ ý muốn, từ lời nói, từ việc làm cho tới cách ăn mặc. Tất cả chúng ta còn Vô minh, chưa một ai trọn sáng, trọn lành. Nếu thấy người ta phạm lỗi thì khoan cười chê, nhạo báng mà hãy tự nói: “Trước kia tôi cũng như anh đó, tôi cũng lầm lẫn vậy.” Hãy coi chừng lấy. Cười người hôm trước, hôm sau người cười. Chớ nên khoe mình trong sạch. Phải hết sức khiêm tốn. Trong quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo, qui tắc 5-8 có câu này:
          “. . . . . . . Và, trước khi con được giác ngộ, con phải trải qua khắp mọi nơi dù chúng nó có ô uế hay là trong sạch cũng vậy. Vì thế con nên nhớ rằng: Y phục dơ bẩn mà con vừa đụng tới con đã gớm nhờm, có thể con đã mặc nó  ngày hôm qua, cũng có thể ngày mai con sẽ mặc nó lại nữa. Và nếu con quay mặt chỗ khác tỏ vẻ ghê tởm thì nó sẽ bó sát vào mình con khi người ta ném nó lên vai con.
          Người nào kiêu hãnh về đức hạnh của mình thì dọn cho mình một chỗ nằm trong chốn bùn lầy. Con hãy trì giới vì trì giới là điều tốt chứ không phải cốt để giữ mình con cho được trong sạch.”
          Còn về tín ngưỡng thì càng khó khăn nữa.
          Trong các Tôn giáo, duy có Phật giáo là khoan dung hơn hết, còn Thiên Chúa giáo và Hồi giáo rất cố chấp. Cũng vì giành ngôi mộ của Đấng Christ mà Thiên Chúa giáo xung đột với Hồi giáo và cuộc viễn chinh Thập Tự Quân, nếu tôi nhớ không lầm, làm cho 20 triệu tín đồ bỏ mình nơi chiến địa.
          Cho tới ngày nay Công giáo và Tin Lành cũng không thích nhau.
          Quả thật bây giờ không có việc thiêu đốt những người mà Tòa Án Tôn Giáo cho là quỉ ám, song cũng có những sự ngược đãi ngấm ngầm.
          Nhưng các nhà Huyền bí học chân chính không hề phạm vào lỗi này.
          e – Samadhâna: Sức mạnh của sự chủ ý.
          Đây là sự tập trung tư tưởng vào mục tiêu, không để cho sự cám dỗ, những sự quyến rủ làm cho hành giả rời bỏ con đường Đạo.
          Nên biết ở mỗi chặng đường, hành giả đều gặp những chướng ngại dựng lên để thử sức chịu đựng của thí sinh. Phải vượt qua mới tiến tới được. Bị vấp ngã ư! Điều này vẫn luôn luôn phải có, nhưng đừng ngã lòng, cứ chỗi dậy, phủi quần áo, tắm rửa sạch sẽ rồi đi tới.
          Phải sợ vật chất, nó có quyền năng quyến rủ lạ thường, khúc nhạc của nó trổi lên thì con người xiêu hồn lạc phách, chỉ còn biết một điều là mong sao thỏa thích được dục vọng, quên mất bản tánh thiêng liêng và bổn phận của mình làm vợ, làm chồng, làm con. Phải cẩn thận từ chút từ tư tưởng, ý muốn cho tới lời nói và việc làm, vì Cái Trí và Cái Vía quỉ quyệt lắm. Chúng a tùng với nhau, xúi dục con người thực hành những điều mà chúng nó ước muốn, mà con người lầm tưởng là mình muốn.
          Có nhiều kinh nghiệm rồi mới biết sợ. Chưa tự biết mình thì tưởng mình là Thần là Thánh trong khi thân mình còn vấy bùn nhơ chưa gội rửa cho sạch sẽ.
          Dưới Chơn Thầy đã dạy: “Không nên để những sự cám dỗ, những cuộc vui vẻ của thế gian, những sự yêu mến dưới Hồng Trần làm cho con lạc bước, bởi vì con với Đạo phải nhập làm Một mà thôi. Về quan điểm này Đạo phải là bản tánh của con. Con bước trên đường Đạo mà không cần tưởng tới Đạo mà con cũng không rời Đạo được nữa. Con là Chơn Thần, con đã nhất định như vậy. Nếu con bỏ Đạo tức là con chia lìa con ra.”
          f – Saddha: Đức tin.
          Đức tin đây là tin cậy Thầy mình và tin cậy mình nữa.
          Mình nhờ Chơn Sư huấn luyện nên mới bước vào đường Đạo, vì thế ta luôn luôn tin cậy Ngài.
          Phải là đệ tử Chơn Sư và có những kinh nghiệm trên cõi Trung Giới, Thượng Giới mới triệt để tin cậy Thầy mình chứ nói khơi ra, không ai hiểu chi hết.
          Thường thường người làm đệ tử kiếp này, mấy kiếp trước đã làm đệ tử Chơn Sư rồi. Sau khi vị đệ tử bỏ xác, Chơn Sư chọn lựa gia đình có đạo đức đặng cho đệ tử đầu thai vào đó, sau lớn lên có những phương tiện giúp đời.
          Phải có Chơn Sư dìu dắt, vị đệ tử mới đi tới bậc Siêu Phàm và thành chánh quả như Ngài.
          Có vài người đã được thấy Ngài, gặp Ngài, ban đầu tin tưởng Ngài, rồi sau lại hóa ra nghi ngờ. Vì lẽ nào? Không rõ. Song mỗi người có quyền tự do đình đoạt số phận của mình.
          Chỉ tiếc vậy thôi, vì chưa ắt kiếp sau sẽ gặp được Chơn Sư hay không. Ngài vốn trường sinh bất tử, còn người thường mỗi kiếp phải bỏ xác một lần và kiếp sau không còn nhớ lại kiếp trước.
          Vị đệ tử cũng phải tin cậy lấy mình vì biết rằng mình là Chơn Thần, một vị Tiểu Thượng Đế Pháp lực vô biên, nhưng mà những quyền năng này còn tiềm tàng trong mình.
          Chỉ có học hỏi phương pháp và ra công luyện tập đặng khai mở lần lần những quyền năng đó thì tới một ngày kia sẽ đạt được mục đích đã định sẵn cho  nhân loại trong Thái Dương Hệ này tức là thành một vị Siêu Phàm.
          Ta nên biết rằng: Cái chi con người đã làm rồi thì con người làm lại được. Một vị Chơn Sư có nói với đệ tử: “Trước đây không lâu, Ta ở địa vị của các con bây giờ.” Chắc chắn là Ngài muốn nói: Nếu các con cố gắng thì sẽ mau thành chánh quả như Ta vậy.
          Người ta thường van vái cho Tiên Phật độ mình.
          Tiên Phật độ mình là chỉ đường đi, nước bước cho mình, dạy bảo phương pháp cho mình luyện tập đặng tiến cho mau tới cửa Đạo. Mình phải ra công, ngày đêm phải gắng sức mở mang những đức tánh cần thiết cho cuộc Đạo Điểm Đạo đặng lên bậc Sotapatti (Tu Đà Huờn).
          Vị đệ tử làm được những điều mà Thầy mình đã làm.
          4 – Giai đoạn thứ tư Anuloma: Thứ tự trực tiếp hay là sự liên tục.
          Đức tánh này là kết quả của ba đức tánh trước. Trong giai đoạn này vị   đệ tử muốn thoát ra đời sống tầm thường của thế tục đặng nhập vào đời sống cao siêu.
          Giai đoạn này Ấn giáo gọi là Mumukshatva, nghĩa là muốn được giải thoát, khỏi đọa Luân Hồi.
          5 - Giai đoạn thứ năm Gotrabhu: Đủ tư cách hay đủ năng lực để được Điểm Đạo.
*
          Khi xưa người ta hỏi Đức Phật: Người nào là Gotrabhu?
          Đức Phật đáp: Người nào hội đủ những điều kiện để được Thánh hóa, ngay khi đó người ấy là Gotrabhu.
*
          Trên đường Đạo, mỗi chặng đều chia ra làm Bốn giai đoạn:
          1 – Giai đoạn thứ nhất gọi là Maggo. Trong lúc này, thí sinh lo rèn luyện đức tánh mình muốn có.
          2 – Giai đoạn thứ nhì là Phala có nghĩa là có kết quả (có trái). Thí sinh bắt đầu thấy tánh tình mình tập hiện ra tỏ rõ nơi mình.
          3– Giai đoạn thứ ba là Bhavagga: giai đoạn này sự kết quả đã đi đến mức tột bực. Thí sinh đứng vững tại chỗ mình đã đi đến và làm việc đắc lực.
          4 – Giai đoạn thứ tư là Gotrabhu có nghĩa là đủ tư cách hay đủ năng lực để được Điểm Đạo.
          Trước khi vào giai đoạn nào thì thí sinh phải chặt đứt những chướng ngại thuộc về giai đoạn đó.
*

CHƯƠNG THỨ BA

BỐN BẬC ĐỆ TỬ

          Phật giáo có đề cập đến Bốn bậc Đệ Tử gọi là Tứ Thánh.
    Bậc thứ nhất là Tu đà huờn (Sotapatti).
    Bậc thứ nhì là Tư đà hàm (Sakadagami).
    Bậc thứ ba là A na hàm (Anâgâmi).
    Bậc thứ tư là La Hán (Arhat – Arahat).
          Còn thiếu bậc thứ năm nữa là Asekha,[13] địa vị Siêu Phàm – bốn bậc trên còn ở trong vòng đệ tử. Còn Asekha có nghĩa là không còn làm đệ tử nữa. Ấy là bậc hoàn toàn sáng suốt, không còn cái chi học hỏi tại Dãy Địa Cầu này nữa.
          Mặc dù Phật giáo có nói đến Bốn bậc Thánh song không giải thích vị Tu đà huờn muốn lên bậc Tư đà hàm thì phải hội đủ những điều kiện nào. Về ba cấp bậc trên cũng vậy. Điều này rất dễ hiểu là chúng nó thuộc về Khoa Bí Truyền, thuở xưa không được phép tiết lộ ra ngoài.
          Nhưng ngày nay nhân loại đã tiến đến mức độ hiểu biết được vài sự bí mật của Tạo Công cho nên một thế kỷ trước, năm 1875, Thiên Đình mới cho phép đem vài chương đầu của Khoa Huyền bí học ra phổ biến, vì năm 1975, một kỷ nguyên mới sẽ mở màn, ấy là kỷ nguyên Huyền bí học. Người ta sẽ mến tinh thần nhiều hơn vật chất. Thế nên những sách Thông Thiên Học như Con Người Hữu Hình và Vô Hình (L’homme visible et invisible), Những Hình Tư Tưởng (Les formes-pensées), Những Luân Xa (Les Chakras), Chơn Sư và Đường Đạo(Les Maitres et le Sentier), Huyền Bí Học trong Thiên Nhiên (L’Occultisme dans la Nature), Khía Cạnh Bí  Ẩn của Sự Vật (Le côté caché des choses), Dưới Chơn Thầy v à Giảng Lý (Aux pieds du Maitre et Commentaires sur Aux Pieds du Maitre), Tiếng Nói Vô Thinh và Giảng Lý (La voix du silence et Commentaires sur la voix du silence), Ánh Sáng trên Đường Đạo và Giảng Lý (La Lumière sur le Sentier et Commentaires sur la Lumière sur le Sentier) v.v. . . . mới được phép xuất bản.

ĐƯỢC ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ NHẤT
          Khi sinh viên tập rèn những đức tánh đã kể ra trong bốn giai đoạn trước đây, mỗi đức tánh hơn mức độ trung bình thì được một vị Chơn Sư, Phật giáo gọi là A Sơ Ca (Asekha) thu nhận làm đệ tử và huấn luyện anh. Khi Ngài thấy anh hội đủ những điều kiện được vào Tu đà huờn thì Ngài dắt anh đến Quần Tiên Hội xin Điểm Đạo lần thứ nhất cho anh.

VÀO HÀNG TU ĐÀ HUỜN
          Sau khi được Điểm Đạo lần thứ nhất, sinh viên  được vào hạng Sotapatti hay là Sohan Sotapatti hay là Sohan là giai đoạn đầu tiên của con đường dắt đến cõi Niết Bàn.
          Người ta gọi vị đệ tử được vào hạng Sotapatti là Sowani hay là Sotâpanna có nghĩa là người đã vào dòng sông (Entré dans le courant). Dòng sông đây có nghĩa bóng là đường tiến hóa của những vị Siêu Phàm, Tàu dịch Sotâpanna là Tu đà huờn.
          Vị Tu đà huờn đã bỏ con đường Tiến hóa của Trần Tục và bước vào con đường Tiến hóa của Tiên Thánh. Vì thế anh và ba bậc trên nữa là Tư đà hàm, A na hàm và La Hán được liệt vào hàng Tứ Thánh, mặc dù anh còn phải luân hồi nhiều kiếp, bậc trung là 14 kiếp, mới trở nên hoàn toàn sáng suốt.
          Anh đã chánh thức bước vào Đường Đạo và làm một nhân viên của Quần Tiên Hội. Sự tiến hóa của anh có thể chậm chạp, song anh không bị bỏ lại trong Sự Phán Xét Cuối Cùng của cuộc Tuần Hoàn thứ Năm. Ấn giáo gọi anh là Parivrajaka nghĩa là người đi ta bà, vô trú. Anh không có chỗ ở nhất định. Sư Phụ sai anh đi đến đâu thì anh đi tới đó đặng thi hành mệnh lệnh của Ngài.
          Thiên Chúa giáo gọi anh là người được cứu rỗi (Sauvé).
          Anh còn phải lo chặt đứt 10 chướng ngại buộc trói con người vào bánh xe Luân Hồi từ đời này qua đời kia.
MƯỜI CHƯỚNG NGẠI TRÓI BUỘC
CON NGƯỜI VÀO BÁNH XE LUÂN HỒI
          Mười chướng ngại này Phái Nam Tôn gọi là Samyojana.
          1    Chướng ngại thứ nhất Sakkayaditthi: Phàm Nhơn là ảo ảnh.
     2    Chướng ngại thứ nhì Vitchikitchtchâ: Sự hoài nghi hay là không quả quyết.
          3    Chướng ngại thứ ba Silabbataparâmasa: Tin tưởng dị đoan.
          4    Chướng ngại thứ tư Kâmaraga: Say đắm dục tình.
    5    Patigha ou Vyâpada: Giận hờn hay thù oán, oán hận.
     6    Ruparâga: Muốn sống trong một hình hài đẹp đẽ tại cõi Trần kể luôn tại cõi Thiên Đàng.
      7 – Aruparâga: Muốn sống trong cõi vô hình.
      8 – Mano: Kiêu căng.
          9    Uddhachcha: Tâm còn xao động, nổi cáu, nổi nóng.
          10    Avijja – Avidyâ: Vô minh.
CHẶT ĐỨT BA CHƯỚNG NGẠI ĐẦU TIÊN
          Ngoài nhiệm vụ hằng phải thực hành một cách chu đáo, vị Tu đà huờn phải lo chặt đứt ba chướng ngại đầu tiên là:
          a – Phàm Nhơn là ảo ảnh.
          b – Sự hoài nghi hay không quả quyết.
          c – Sự tin tưởng dị đoan.
A – TẠI SAO GỌI LÀ ẢO ẢNH?
          Phàm Nhơn là cái “Tôi đây.”
          Các nhà Huyền bí học đều biết Phàm Nhơn là do Chơn Nhơn sinh ra để đại diện cho mình ở cõi Trần.
          Ngay sau khi con người bỏ xác và về cõi Thiên Đàng rồi thì Phàm Nhơn đem Tinh hoa của những sự học hỏi và kinh nghiệm dâng cho Chơn Nhơn rồi tan  mất. Kiếp sau đi đầu thai, Chơn Nhơn sinh một Phàm Nhơn mới khác cho nhập vào ba thể: Thân, Vía, Trí của đứa bé.
          Khi được Điểm Đạo lần thứ nhất, Phàm Nhơn nhập một với Chơn Nhơn. Thường thường sau cuộc Điểm Đạo hoặc ít lâu sau đó, vị Tu đà huờn nhờ Sư Phụ hay một vị Đại Sư Huynh tới bậc La Hán đem lên cõi Bồ Đề kinh nghiệm một vài cách tập luyện.
          Tại cõi Bồ Đề, Tâm Thức anh mở rộng mặc dù trong một thời gian ngắn, anh thấy Vạn vật nhất thể, tất cả chỉ là Một, sự chia rẽ dưới Phàm Trần là một sự lầm lạc, là ảo tưởng.
          Mình ở trong Tâm Bạn mình, Bạn mình ở trong Tâm mình. Mình hiểu rõ Bạn mình như mình hiểu rõ mình. Điều này rất kỳ lạ, không diễn tả được mà nói ra người thường không ai tin. Tuy nhiên sự thật vẫn thế.
          Có kinh nghiệm này rồi vị Tu đà huờn mới có thể lần lần diệt được sự chia rẽ “Người” và “Ta” và mới có đủ sức dẹp chướng ngại sau là:
B – SỰ HOÀI NGHI HAY LÀ KHÔNG QUẢ QUYẾT
          Hoài nghi đây là không tin có Cơ Tiến hóa, có Luật Nhân Quả, Luân Hồi và con đường Thánh Thiện. Thực sự ngoại trừ các nhà Huyền bí học thì không một ai biết rằng con người sinh ra ở cõi Trần để học hỏi Cơ Trời đặng tiến đến bậc Siêu Phàm. Quyển Dưới Chơn Thầy có nói: “Trời có một cái Cơ, Cơ đó là sự Tiến hóa.” Thiết tưởng chúng ta nên biết một cách tổng quát về Luật Tiến Hóa, về Luật Nhân Quả, Luân Hồi và sự tin tưởng dị đoan.
CƠ TRỜI LÀ LUẬT TIẾN H ÓA
          Chung quanh chúng ta, vạn vật đều Tiến hóa một cách âm thầm lặng lẽ, có thể nói là chậm chạp song điều hòa. Trong mình con người, sự Tiến hóa bao hàm sự thay đổi hình dạng và sự mở mang trí hóa tánh tình, từ lúc bé thơ đến khi trưởng thành.
          Về sự Tiến hóa tại Dãy Địa Cầu chúng ta, nói một cách dễ hiểu thì:
          1    Các loài Tinh Chất (Essences élémentales) sau đầu thai là Kim Thạch.
          2    Kim Thạch đầu thai làm Thảo Mộc.
          3  –  Thảo Mộc đầu thai làm Cầm Thú.
              4 –  Cầm Thú sau đầu thai làm Con Người hay các Tinh Linh cũng gọi là Ngũ Hành (Esprits de la nature) tùy theo giống.
          5    Con Người thành Tiên Thánh.
          6    Tiên Thánh càng ngày càng tiến lên nhiều bậc cao hơn nữa. Rồi tới một ngày kia không biết chắc là bao nhiêu tỷ năm nữa, mỗi vị Tiên Thánh đều thành một vị Thái Dương Thượng Đế và sẽ sinh hóa một Tiểu Vũ Trụ khác giống như Thái Dương Hệ này vậy.
          Cái thang tiến hóa không biết tới đâu là mức cuối cùng. Trên sông Thiên Hà có không biết bao nhiêu tỷ ngôi Mặt Trời, lớn có, nhỏ có, như ngôi Epsilon bề trực kính tới bốn tỷ cây số. Không biết còn ngôi Mặt Trời nào lớn hơn nữa không.
          Về loài Cầm Thú thời Thượng cổ thì hình thù thô kệch, xấu xa, lông lá xồm xoàm, không được mảnh mai tốt đẹp như loài cầm thú ta thấy bây giờ. Sự thay hình đổi dạng thấy rõ rệt.
          Mấy chục năm trước, đi dạo núi Cô Tô, tôi có vớt những mảnh vàng non lẫn lộn với cát tại một cái suối từ trên chót núi chảy xuống.
          Tôi cũng thấy nhiều cục đá phía dưới là đá cục, phía trên là thủy ngọc. Đây là bằng chứng cục đá tiến hóa, nhưng sự tiến hóa của nó rất chậm chạp và kéo dài cả thế kỷ.
          Trước mặt ta con lăng quăng biến thành con muỗi, có lông, có cánh, biết bay, biết hút máu; con sâu biến thành con bướm, cánh lông rực rỡ bay lượn trên không và biết hút mật từ bông này qua bông kia.
          Sự tiến hóa trải ra trước mắt ta, nhưng thử hỏi cái chi trong mình con lăng quăng biến thành cái vòi, cái cánh, cái chân mà nhất là cái tánh con muỗi là thích chích con người và thú vật đặng hút máu.
          Còn con sâu thì rất hì hợm, tại sao lại có hai cánh đẹp đẽ màu sắc rực rỡ, cái chi làm ra màu sắc đó. Tại sao con bướm lại biết hút mật? Giải nghĩa cho đúng sự thật không phải là chuyện dễ dàng đâu.
          Sự tiến hóa tuân theo những Luật vô hình, phải mở mắt Thánh gọi là Thần Nhãn, Huệ Nhãn mới thấy được. Con mắt Phàm chỉ để xem những gì hiện ra ở cõi Trần mà thôi.
          Những giả thuyết người ta đưa ra chỉ đúng có một phần. Luôn luôn có những giả thuyết mới thay đổi những giả thuyết cũ, cho tới chừng nào con người dùng được mắt Thánh để quan sát những cõi Vô hình, tới chừng đó con người mới có thể hiểu biết sự thật và hết lầm lạc.
VỀ LUẬT NHÂN QUẢ LUÂN HỒI
          Nhìn vào xã hội, ta thấy từ tánh tình cho đến trình độ trí thức, người này khác hơn người kia rất xa.
          Người thì vui vẻ, hiền hậu, người thì nóng nảy, hung bạo; người thì thông minh tót chúng, người thì dốt nát, quê mùa; người thì nhân từ vị tha, người thì độc ác, ích kỷ; người thì biếng nhác, người thì siêng năng; người thì giàu sang tột bậc, người thì nghèo khổ hết sức. Người biết suy nghĩ đều rất thắc mắc về điểm này. Nếu hỏi vì lý do nào thì không biết sao mà trả lời cho đúng.  
        Có người lại nói: Tại Trời sinh như vậy. Nếu quả thật như thế thì Ông Trời Đại bất công và là người cha ác độc chứ không phải người Cha hiền từ. Những người trên thế gian đều là con của Ngài. Tại sao lại có đứa lại được quá thương yêu nên ban thưởng, có đứa Ngài lại quá ghét bỏ, nên hành phạt. Xin hỏi: Những người này làm tội tình gì? Còn những người kia có những công đức gì? Toàn là những vấn đề nan giải.
          Duy có Luật Nhân Quả Luân Hồi mới giải thích hợp lý mà thôi.
          Nên biết có bảy loài thú được đi đầu thai làm người như: Voi, khỉ, chó, mèo, ngựa, còn hai loài nữa không tiết lộ. Những thú đi đầu thai làm người trước chúng bạn cả chục triệu năm thì tự nhiên có kinh nghiệm nhiều và khôn ngoan, thông minh, giỏi giắn hơn và ít gây tội lỗi hơn chúng bạn mới thoát kiếp đi đầu thai làm người vài chục ngàn năm.
          Còn về Luật Nhân Quả. Gieo giống chi gặt giống nấy. Trồng dưa đặng dưa, trồng đậu đặng đậu.
          Luật Trời rất chí công chí thiện.
          Luật Nhân Quả là Luật Thăng Bằng của Vũ Trụ. Khi con người làm mất sự thăng bằng thì thiên nhiên phản động đặng lập lại sự quân bình như trước. Nhờ vậy toàn thể Khí lực trong vũ trụ không tiêu mất.
          Luật Nhân Quả dạy ta những bài học khôn ngoan sau đừng vi phạm Luật Trời đặng khỏi lãnh những hậu quả đau thương. Chớ nên tưởng rằng: Trời hành phạt mình mà trái lại mình tự ban thưởng mình, mình tự hành phạt mình.
          Câu “Hoạ phước vô môn, duy nhơn tự triệu. Thiện ác hữu báo như ảnh tùy hình,” thật đúng với Chân lý vậy.
TIN TƯỞNG DỊ ĐOAN
Tỷ như chuyện sau đây:
        Thuở xưa có một nhà Sư tu hành chơn chánh, được người ta rất mến phục. Ông có nuôi một con mèo rất  trìu mến ông, nó cứ theo cà rà bên chân. Mỗi lần ông làm lễ, ông phải cột nó dưới chân giường vì sợ nó làm rộn ông.
          Sau khi ông từ trần, thì cuộc hành lễ cũng theo thời gian mà mất dạng.
          Người ta chỉ còn nhớ là: Mỗi lần cúng tế phải bắt con mèo cột dưới chân giường. Đây là sự hiểu lầm nên thành ra dị đoan. Người ta không hỏi ông, lúc ông còn sanh tiền, vì lý do nào mà mỗi lần ông hành lễ, ông phải bắt con mèo cột dưới chân giường mà cứ cho việc đó là phần chánh trong sự cúng tế.
          Sự tin tưởng dị đoan có nhiều khía cạnh. Nếu không mở được trực giác, không có nhiều kinh nghiệm thì khó mà phân biệt được cái nào là chơn chánh, cái nào là mơ hồ.
          Tin rằng mỗi ngày dâng hương, lễ bái sáu phương đặng rửa lòng trong sạch tiêu tội là tin tưởng không đúng với chánh lý. Sự cầu nguyện, lễ rửa tội, tuân theo những nghi thức có sự hữu ích riêng của chúng nó, nhưng không phải nhờ thế mà con người trở nên Thánh Thiện, Minh Triết. Con người phải sửa đổi những tư tưởng, những ý muốn, những lời nói và những việc làm sao cho cao thượng, thanh bai thì tấm lòng mới trở nên trong sạch. Trong các Tôn giáo: Ấn giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, đều có sự mê tín và tin tưởng dị đoan, phải nói: Rất nhiều.
          Một khi có những thành kiến rồi, không phải dễ mà cởi mở chúng nó đâu.
          Những người nào bị sự mê tín dị đoan chi phối thì khó bề tiến hóa. Người ta có thể tìm Chân lý trong tất cả các Tôn giáo vì mỗi Tôn giáo là một con đường đạt đến Đức Thượng Đế. Chỉ tại tín đồ không giữ gìn giới cấm cho đúng phép cho nên ánh sáng mới không hiện ra. Muôn việc đều tại lòng người.
HAI CHUYỆN DỊ ĐOAN THÔNG THƯỜNG
          Ở đây tôi xin nói vài lời về hai chuyện dị đoan thông thường là việc tin rằng nhân vật trong hai bộ Truyện Phong Thần và Tây Du Diễn Nghĩa và Âm Ty Địa Ngục có thật.
1 – NÓI CHUYỆN PHONG THẦN
          Không có thật Thái Thượng Lão Quân,[14] Nguơn Thỉ Thiên Tôn, không có Thông Thiên Giáo Chủ, không có Chuẩn Đề, không có Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, không có hai trận Tru Tiên và Vạn Tiên, không có việc Phong Thần. Chỉ tức một điều là ông Lục Tây Tinh [15] tác giả bộTruyện Phong Thần trang tả ba vị Giáo chủ Đông Độ: Lão Tử, Nguơn Thỉ Thiên Tôn và Thông Thiên Giáo Chủ không khác nào những Võ sư phàm tục, cũng kiêu căng, tự phụ, tự tôn, tự đại, hiển lộng thần thông, khoe tài đấu phép, quyết sát hại lẫn nhau giữa chốn chiến trường, không chút từ tâm, không xứng đáng làm chủ tể các vị Thần Tiên một chút nào.
          Nhưng hai câu liễn dán tại Bích Du Cung là Chân lý ngàn năm bất diệt:
          “Đóng cửa tụng Huỳnh Đình, thật bực số thành ngôi Chánh quả,
          Tách mình qua Tây Thổ, là người tên đứng bảng Phong Thần.”
          Tây Thổ chẳng phải chỉ có nghĩa Tây Kỳ, mà còn tượng trưng cho đường danh nẻo lợi. Làm trái nghịch lòng Trời thì phải mất mạng. Hầu hết các Tiên Triệt giáo là hình bóng của Cái Trí kiêu căng, tự phụ, toàn là những người chưa tự biết mình. Điển hình thứ nhất là Triệu Công Minh, thứ nhì là Dư Nguơn, cả hai đều thác về tay Lục Yểm.
2 – NÓI CHUYỆN TÂY DU DIỄN NGHĨA
          Không có thật Tam Tạng, không có Ngộ Không, không có Sa Tăng, Bát Giới, không có chuyện loạn Thiên Cung, không có việc bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, không có chuyện Đức Phật phong chức cho ai cả.
          Tam Tạng tượng trưng cho Chơn Nhơn và ba đồ đệ: Tôn Ngộ Không là hình bóng của Cái Trí, ngạo mạn khinh đời, nó lao chao, giống như con khỉ nhảy nhót trên cành. Kim Cô là phương pháp Định Trí không cho nó buông lung. Ngũ Hành Sơn là năm Giác quan.
          Bát Giới là tám điều răn tượng trưng cho Cái Vía ham mê vật dục, đắm say nữ sắc và còn nhiều tật xấu khác như làm biếng, ham ăn, không khác nào con heo. Cho nên người ta vẽ hình Bát Giới là đầu heo.
          Sa Tăng tượng trưng xác thân ăn thịt người, còn yêu quái là những tật xấu.
          Chơn Nhơn phải trừ hết chúng nó mới thành Chánh quả.
          Nếu tin rằng nhân vật nói trên đây có thật, e cho ngày sau khi gặp Chân lý thì bị thành kiến làm cái vỏ bao bọc bên ngoài cản trở, không cho thu thập những điều hay lẽ phải.
          Ngày nào chưa phá tan được vỏ thành kiến thì ngày đó chưa tiến xa được.
KHÔNG CÓ THẬT ÂM TY ĐỊA NGỤC
KHÔNG CÓ THẬT THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG
          Ai bày ra thuyết Âm Ty Địa Ngục và hồi đời nào không rõ. Song chắc chắn người bày ra có ý khuyên răn người đời chớ nên làm ác mà phải mắc tội. Nhưng không dè thuyết đó lại gây ra cái họa mê tín làm hại đời rất nhiều từ thế hệ này qua thế hệ kia.
          Tôi xin đưa ra hai bằng chứng cụ thể, một ở trong Kinh sách Phật, một ở ngoài đời chứng chắc không có Âm Ty Địa Ngục, không có Thập Điện Diêm Vương, không có U Minh Giáo Chủ.
          Thử hỏi từ ngày bày ra thuyết Âm Ty Địa Ngục cho tới nay, có bao nhiêu người cải dữ làm lành, hay là thế gian vẫn tràn ngập những tội lỗi.
          1 – Bằng chứng thứ nhất: Trong Kinh sách Phật Túc Sanh Truyện Jâtaka-Mala có thuật 550 kiếp của Đức Phật chia ra làm ba giai đoạn. Tôi xin tóm tắt  ra đây:
          Giai đoạn thứ nhất: Đức Bồ Tát đầu thai làm thú dưới nước như Vua cá.
          Giai đoạn thứ nhì: Đầu thai làm thú ở trên bờ như con gà trống, chim gõ kiến, con bò u, con nai, con voi v.v. . . .
          Giai đoạn thứ ba: Đầu thai làm người, Ngài cũng phạm lỗi như chúng ta, nhưng không hề nói Ngài bị sa Địa Ngục. Sau Ngài tu hành đắc Đạo lần lần lên tới địa vị Phật Đà.
          2 – Bằng chứng thứ nhì:
          Phật dạy Linh Hồn đi đầu thai từ loài này qua loài kia.
          Phật nói với các vị Tỳ Kheo như vầy:
          Linh Hồn ta đầu thai từ loài này qua loại kia xuyên qua tất cả những hình hài đá cát, cây cỏ, cầm thú và những người tánh tình khác nhau, riêng biệt cho tới khi nó lên tới bậc Toàn Giác là Phật (Mahavagga, VI-29 – Phạm Võng Kinh, VI-29).
          Trong quyển Phúc Âm của Đức Phật (Evangile du Bouddha), tác giả là ông Paul Carus có trích đoạn này ở trang 127.
          Hai quyển Túc Sanh Truyện và Phạm Võng Kinh nói rõ ràng Linh Hồn đi đầu thai và có sự thay hình đổi dạng mà không hề có sự hành phạt dưới Âm Ty Địa Ngục.
          3 – Bằng chứng thứ ba: Những việc ngoài đời.
          Có ma hay không?
          Nêu ra câu hỏi: Có ma hay không? thì tất cả những người trên thế gian từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc đều trả lời: Quả thật có ma.
          Ma là gì? Ma là hồn người chết.
          Những sách và báo chí Thần Linh Học đều có thuật chuyện ma hiện hình ra nói chuyện với người sống, hồn ma giữ của hay là những giấy tờ quan hệ đến việc phân phát gia tài, hồn ma nhát người, liệng đá gạch v.v. . . .
          Hiện giờ ở Âu Mỹ, nhiều nước lập Câu Lạc Bộ để chiêu hồn người chết. Người ta chụp được hình những hồn ma hiện ra. Tôi xin kể vài chuyện thôi.
          Trong quyển Les merveilles du spiritisme (Những kỳ diệu của Thần Linh Học), tác giả là Bác sĩ Jean Phillipe Crouzet có in 75 hình trong đó có nhiều Hồn ma.
          Bác sĩ Raoul Montandon cũng có nói Hồn ma hiện hình trong quyển Les Formes Matérialisées.
          – Chuyện Hồn Ma cô Katie King và nhà Bác học William Crookes.
          – Lá thư người chết.
          – Chuyện Hồn ma của 30 thủy thủ Nhật phá khuấy một nhà thầu ở Mã Lai năm 1958.
          Tất cả đều chứng minh rằng chết xác thịt chứ Linh Hồn vốn trường sinh bất tử.
          Quí bạn nên đọc quyển Bên kia cửa tử (L’autre côté de la mort) của Đức Leadbeater quí bạn sẽ thấy hồn ma hiện ra vì nhiều mục đích khác nhau và sẽ biết rằng: kiếp chết không phải là kiếp mất.
          Người chết vẫn sống nhưng dùng một thể khác và ở tại một cõi khác. Cõi đó là cõi Trung Giới chứ không phải Âm Ty Địa Ngục.
          Đọc những chuyện trên đây, thì có thể kết luận rằng:
          Nếu có Hồn ma thì không có Âm Phủ, còn nếu có Âm Phủ thì không có Hồn ma. Việc này rất dễ hiểu là: Tất cả những người trên thế gian đều làm tội. Nếu có tội, sau khi thác thì hồn bị quỉ sứ bắt đem xuống Âm Phủ đặng vua Diêm Dương xử tội thì thế gian làm sao còn một hồn ma nào đi thơ thẩn gọi là Hồn ma.
          Lẽ tự nhiên, có cái này thì không có cái kia, còn có cái kia thì không có cái này.
          Tôi có đọc Hồi Dương Nhân Quả và Từ Ân Ngọc Lịch. Tôi thấy Diêm Chúa chỉ xử tội người Tàu chứ không có một người Nhật, một người Việt Nam hay một người Miên, một người Ấn nào cả. Vậy thì Âm Phủ đó chỉ để riêng cho người Tàu thôi.
          Bên Âu Châu có lần cầu hồn về, người ta hỏi nhiều hồn ma có thấy Địa Ngục không? thì họ trả lời: “Không thấy chi cả.”
          Té ra chỉ bên Tàu mới có Âm Phủ mà các nước khác trên hoàn cầu không có Địa Ngục.
          Nếu quả thật như vậy thì rất tội nghiệp cho người Tàu.
          Bây giờ ta hãy nêu ra câu hỏi: Các hàng Phật tử nên tin Hồi Dương Nhân Quả và Từ Ân Ngọc Lịch hay là nên tin Túc Sanh Truyệnvà Phạm Võng Kinh? Cái nào quan trọng hơn?
          Tôi xin nhắc: Tin là một việc còn sự thật là một việc khác nữa.
          Và một khi tin dị đoan rồi, thì khó gỡ ra khỏi Cái Trí lắm.
          Nhưng tôi tưởng cũng phải nói thêm vài lời rằng: Không có Âm Phủ thật mà có Âm Phủ giả.
KHÔNG CÓ ÂM PHỦ THẬT MÀ CÓ ÂM PHỦ GIẢ
          Có người đi thiếp về hoặc chết đi sống lại nói rằng họ thấy Âm Ty Địa Ngục và Thập Điện Diêm Vương.
          Họ nói thật, họ không nói dối đâu.
          Vậy thì tại sao có Âm Phủ này?
          Xin nói liền: Ấy là Âm Phủ giả do hình tư tưởng của con người tạo ra.
          Trước đây tôi có nói tư tưởng con người có hình dạng. Hình tư tưởng là con sinh vật, cũng sống lâu, cũng chết yểu, cũng mạnh, cũng yếu cũng khôn ngoan, cũng quỉ quyệt, chủ nó sai làm cái gì thì nó làm cái nấy.
          Nhiều hình tư tưởng đồng bản tánh với nhau thì hiệp lại thành Một Hình Tư Tưởng rất lớn, mạnh mẽ vô cùng và sống lâu lắm. Pháp môn gọi là Egrégore.
          Ta biết rằng Trung Quốc có khoảng tám chín trăm triệu dân số hầu hết đều tin có Âm Phủ, mỗi ngày họ tạo ra bảy, tám triệu hình tư tưởng về sự hình phạt dưới Địa Ngục. Không phải chỉ có một ngày thôi mà trọn mấy ngàn năm như vậy. Hình tư tưởng này cho đến ngày nay và cả ngàn năm sau vẫn còn hoạt động ở cõi Trung Giới.
          Những ai hồi còn sanh tiền tin có Âm Phủ, sau khi thác rồi sẽ bị nó ám ảnh.
          Nhưng một thời gian sau sẽ có những vị Phò Trợ Vô Hình tới dạy dỗ cách sinh hoạt tại cõi Trung Giới. Họ sẽ tỉnh ngộ và sẽ thoát ra khỏi chốn đó.
          Đây là sự thật về Âm Phủ.
*

ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ NHÌ
          Vị Tu đà huờn chặt đứt được ba chướng ngại đầu tiên thì được Điểm Đạo lần thứ nhì. Anh vào bậc Sakadagami và người ta gọi anh là Sakadagamin có nghĩa là: Người chỉ trở lại một lần nữa thôi. Tàu dịch là Tư đà hàm hay Nhứt Lai.
          Tại sao gọi là Nhứt Lai? Bởi vì theo phép, kiếp sau, anh đầu thai lại, anh sẽ lên tới bậc La Hán và vị La Hán không còn bị bắt buộc phải Luân Hồi dưới trần thế nữa. Ngài có quyền ở tại cõi Bồ Đề tu hành cho tới khi thành Chánh quả làm một vị Siêu Phàm. Sự Điểm Đạo lần thứ nhì mở mang Hạ Trí rất nhiều và làm phát triển những quyền năng gọi là những phép Thần Thông. Không có những quyền năng này, sinh viên không thể hiểu được những điều mà người ta sẽ dạy anh, mà anh cũng không thể làm việc trên cõi Thượng Giới. Lên cõi này lúc anh ngủ, anh ở trong Cái Trí (Hạ Trí) và sử dụng nó như sử dụng xác thân. Anh hoàn toàn thức tỉnh, anh hiểu biết, anh hoạt động như lúc anh còn ở tại cõi Trần này. Anh học được phương pháp làm một Cái Vía giả, tạm thời để dùng tại cõi trung Giới gọi là Mayaviroupa. Có nhiều điều ở tại cõi Trung Giới không thể làm được mà lên cõi Thượng Giới ở trong Cái Trí anh thực hiện chúng nó một cách dễ dàng.
          Trong năm lần Điểm Đạo, duy có lần thứ nhì là nguy hiểm hơn hết. Nếu vị đệ tử dùng Thần Thông để khoe khoang hay là làm lợi cho mình thì sẽ vấp ngã. Anh đầu thai lại nhiều kiếp mà không tiến hóa.
          Tưởng cũng phải nói điều cần nên biết sau này và ghi nhớ vào lòng là:
          Vị đệ tử được phép dùng Thần Thông đặng cứu người, nhưng không được phép dùng Thần Thông đặng tự cứu mình, lúc đau ốm phải nhờ Y sĩ cho thuốc, trị bệnh, nhưng không được phép dùng ý chí đặng giảm bớt sự đau đớn. Hãy nhớ lại gương Đức Jesus. Ngài cứu sống Lazare và trị lành bệnh nhiều người khác. Nhưng khi bị liệng đá rồi bị đem đóng đinh trên Thập tự giá thì Ngài chịu chết chứ không dùng những quyền năng siêu việt đặng thoát khỏi chỗ đó.
          Còn ai chưa phải là Nhân viên Quần Tiên Hội thì có quyền tự do thực hành theo ý muốn.
          Ta nên sợ Luật Nhân Quả mà thôi. Ấn giáo gọi vị được Điểm Đạo lần thứ nhì là Koutichaka, nghĩa là người được một túp lều.
*
ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ BA
          Giữa hai lần Điểm Đạo, kỳ nhì và kỳ ba, không có chướng ngại nào phải chặt đứt. Nhưng từ đó phải lo mở mang Tâm Thức, làm việc đắc lực trên cõi Thượng Thiên và làm giảm bớt sức mạnh của những chướng  ngại còn lại sau này đặng phản chiếu ánh sáng Trực giác trọn vẹn.
          Sự Điểm Đạo lần thứ ba làm phát triển Thượng Trí hay Nhân Thể. Sinh viên được vào bậc Anagami. Người ta gọi anh là Anagamin, có nghĩa là người không trở lại nữa. Tàu dịch là A na hàm hay Bất Lai vì nội trong kiếp này, anh lên tới bậc La Hán và được phép ở lại cõi Bồ Đề tu luyện, khỏi trở lại cõi Trần.
          Ấn giáo gọi vị A na hàm là Hamsa, có nghĩa là Con Hạc. Tục truyền rằng Con Hạc đứng trước một chậu sữa có pha nước thì nó phân biệt được cái nào là sữa cái nào là nước.
          Cũng thế đó, Hiền nhân đánh trúng giá trị con người và vật.
*
          Sau khi được Điểm Đạo lần thứ ba thì Ngôi thứ Nhì Boudhi – Bồ Đề – ở tại cõi Bồ Đề phát triển và lên nhập với Ngôi thứ Nhất Atma tại cõi Niết Bàn. Hai Ngôi thành Một. Vị A na hàm được đem trình diện với Đức Ngọc Đế, Vua của quả Địa Cầu và Chủ Tể của Quần Tiên Hội.
*
ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ TƯ
          Vị A na hàm phải lo diệt hai chướng ngại thứ tư và thứ năm là:
          4 – Kâmaraga: Theo nghĩa Bắc Phạn là say đắm  dục tình.
          5 – Batigha: Giận hờn hay thù oán.
          Hồi mới học Đạo, sinh viên đã cố gắng trừ khử hai tánh không tốt này, nhưng hãy đề phòng, chúng nó có những hình thức tế nhị, ẩn sâu trong lòng nếu thờ ơ sẽ vấp ngã. Phải lo giữ mình luôn luôn.
          Trừ được hai chướng ngại này rồi, vị đệ tử không còn bị ái tình hay nóng giận, ghen ghét, oán hờn dưới Hồng Trần lôi cuốn và chi phối.
          Ở đây phải nói rằng: Tình thương trong sạch, cao thượng như tình mẹ thương con, tình thương nhân loại, tình Thầy trò như Đức Phật và Ananda, Đấng Christ và Jean, không bao giờ mất tuyệt.
          Hãy nuôi dưỡng tình thương này, chớ nên hủy diệt nó.
          Tình thương của người đệ tử phải càng ngày càng mở rộng, nó bao hàm tất cả chúng sinh, từ các loài Tinh Chất cho đến Kim Thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú, Con Người và các loài khác.
          Đạo Đồ (Initié) là Một với Tất Cả.
VÀO TRẠNG THÁI A TỲ (AVITCHI)
          Ngoài việc trừ khử hai chướng ngại nói trên đây, vị A na hàm còn phải trải qua một thử thách cực kỳ khủng khiếp, trong đời không có sự kinh nghiệm nào rùng rợn hơn nữa. Thí sinh phải vào một trạng thái gọi là Trạng Thái A Tỳ (Avitchi). A Tỳ không phải là Địa Ngục dưới Âm Phủ đâu. Đây  là Trạng Thái không có rung động. Thí sinh cảm thấy mình bị bỏ rơi, lẻ loi một mình, không Trời, không đất, không Thầy, không bạn. Người ta nói sự thử thách này chỉ trong chốc lát, nhưng không biết nó dài bằng mấy ngàn hay mấy muôn năm ở ngoài, vì ở chốn này không có không gian, không có thời gian.
          Thí sinh nào chịu không nổi bước ra ngoài thì Thi rớt, sau phải thi lại. Thắng được sự thử thách này, thí sinh thâu thập được nhiều điều hay.
          Trước nhất anh thấy rằng: Ngỡ là mình sống cô độc là ảo tưởng, bởi vì đâu đâu cũng có Đức Thượng Đế. Phải đứng vững một mình, lìa bỏ các sự sống ở ngoài và nhập một với Đức Thượng Đế, bởi chúng mình là Chơn Thần, một Điểm Linh Quang của Ngài và có đủ quyền năng như Ngài.
          Kế đó, mình mở rộng lòng từ bi, thương xót và chia sớt số phận của những anh trong bóng tối (Bàng Môn Tả Đạo) bị bỏ vào Trạng Thái này không biết đã bao nhiêu thế kỷ rồi vì ỷ mình thần thông quảng đại, pháp lực cao cường làm những điều tàn ác trái nghịch lòng Trời trong nhiều kiếp đã không ăn năn hối hận mà càng ngày càng hung bạo thêm. Đây là Nhân nào Quả nấy và cũng là một bài học để chúng ta răn mình.
VỊ LA HÁN (ARHAT)
          Vị A na hàm được Điểm Đạo lần thứ tư, người ta gọi Ngài là Arhat, nghĩa là Đại Đức, Tôn Giả. Tàu dịch là La Hán, xứng đáng được lãnh những đồ vật cúng dường.
          Ngài phải lo chặt đứt năm chướng ngại chót:
          6 – Ruparaga: Muốn sống trong một hình hài đẹp đẽ tại cõi Trần kể luôn tại cõi Thiên Đàng.
          7 – Aruparâga: Muốn sống trong cõi Vô hình.
          8 – Mano: Kiêu căng.
          9 – Uddhachcha: Tâm còn xao động hay cau có.
         10 – Avidya: Vô Minh.
          Ngài mở rộng Tâm Thức Bồ Đề cũng gọi là Bồ Đề Tâm  (Xin đọc “Những quyền năng của Tứ Thánh” trong quyển Vô Minh và Giác Ngộcủa  Phật giáo).
ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ NĂM
          Khi vị La Hán diệt được chướng ngại chót thì bức màn Vô Minh rơi xuống. Người hoàn toàn sáng suốt không còn cái chi học hỏi tại Dãy Địa Cầu này nữa. Ngài được năm lần Điểm Đạo và vào hạng Siêu Phàm.
          Phật giáo gọi Ngài là Asekha, có nghĩa là không còn làm đệ tử nữa. Người ta gọi Ngài là Chơn Tiên hay Thiên Tiên.
          Ấn giáo gọi Ngài là Atita có nghĩa là đã vượt qua hoặc Jivanmukta, nghĩa là đã được hoàn toàn giải thoát.

CHƯƠNG THỨ TƯ

BẢY ĐƯỜNG TIẾN HÓA  TRƯỚC MẶT VỊ SIÊU PHÀM
          Chơn Tiên được nhập vào Niết Bàn. Có Bảy đường Tiến hóa khác nhau mở ra trước mặt Ngài. Ngài có quyền theo con đường nào cũng được.
          1 – Hoặc mặc áo Sambhogakaya, không biết đúng là nghĩa chi vì có nhiều nghĩa.
          2 – Hoặc làm một vị Dharmakaya, hiện thân của Thượng Đế trong một Vũ Trụ khác.
          3 – Hoặc làm một vị Nirmanakaya, sinh ra những luồng Thần lực để cho Nhân viên của Quần Tiên Hội dùng đặng độ đời.
          4 – Hoặc vào đường tiến hóa của các Đại Thiên Thần.
          5 – Hoặc dự phần vào việc tạo lập Dãy Hành Tinh thứ Năm, sau thay Dãy thứ Tư là Dãy Địa Cầu chúng ta.
          6 – Hoặc vào Bộ Tham Mưu của Đức Thái Dương Thượng Đế, đem chỉ thị của Ngài đến các Dãy Hành Tinh và đi đến chỗ nào mà sự hiện diện của Vị Chơn Tiên rất cần thiết.
          7 – Hoặc giữ xác phàm, lãnh một nhiệm vụ trên Thiên Đình tức Quần Tiên Hội đặng giúp đời.
GIỮ XÁC PHÀM Ở LẠI GIÚP ĐỜI
          Những vị giữ xác phàm một mặt lo thi hành công việc của Quần Tiên Hội, một mặt lo tu luyện đặng tiến lên nhiều cấp bậc cao hơn nữa.
          Tại quả Địa Cầu hiện giờ còn khoảng 60 vị Siêu Phàm còn giữ xác thân.
          A Sơ Ca (Asekha) được sáu lần Điểm Đạo thì làm một vị Đế Quân (Chohan) chưởng quản một cung hay là có nhiệm vụ khác.
          Vị Đế Quân được bảy lần Điểm Đạo thì làm:
          1 – Hoặc một vị Bàn Cổ (Manou) coi sóc sự sinh hóa một giống dân, hoặc có nhiệm vụ khác.
          2 – Hoặc một vị Bồ Tát (Bodhisattva) lo về phần giáo dục và đạo đức của một giống dân, hoặc có nhiệm vụ khác.
          3 – Hoặc một vị Văn Minh Đại Đế (Mahachohan) lo về phần văn minh tiến bộ của dân chúng, hoặc có nhiệm vụ khác.
          Được tám lần Điểm Đạo thì làm một vị:
          Độc Giác Phật (Pratyéka Bouddha) hay là một vị Phật đạo đức tùy theo cung thứ nhất hay thứ nhì, hoặc về cõi khác.
          Được chín lần Điểm Đạo làm một vị Vương Đế cai trị một Bầu Hành Tinh, mình gọi là Ngọc Hoàng hay Ngọc Đế (Seigneur du Monde). Tại quả Địa Cầu, Ngài là Chủ Tể Quần Tiên Hội hay là Thiên Đình.
          Mấy điều này thuộc về Khoa Bí Truyền nên rất lạ tai với những người bạn quen thuộc xưa nay với Khoa Công Truyền. Một ngày kia, quí bạn sẽ biết chúng rất đúng với sự thật.
VỊ TU ĐÀ HUỜN PHẢI TU BAO LÂU MỚI LÊN TỚI BẬC A SƠ CA (ASEKHA)
          Lấy bậc trung mà nói, vị Tu đà huờn phải tu trong bảy kiếp mới lên tới bậc La Hán. Còn vị La Hán phải luyện tập trong bảy kiếp nữa mới hoàn toàn sáng suốt. Tất cả là mười bốn kiếp. Tuy nhiên, số kiếp này có thể thâu ngắn lại ba, bốn kiếp hay năm, sáu kiếp hay bảy, tám kiếp. Tất cả đều tùy theo công phu của Hành giả.

CHƯƠNG THỨ NĂM

TẠI QUẢ ĐỊA CẦU AI ĐIỂM ĐẠO?
          Tại quả Địa Cầu này, duy chỉ có một mình Đức Ngọc Đế được phép Điểm Đạo mà thôi. Ngài thay mặt Đức Thái Dương Thượng Đế cai trị quả Địa Cầu và chăm nom sự tiến hóa của các loài vật cho đúng với  Cơ Trời.
          Mười sáu triệu rưỡi năm trước có chỗ nói sáu triệu rưỡi năm, Ngài từ Kim Tinh (Vénus) đi xuống Địa Cầu với Ba Vị Đệ Tử là Ba Vị Độc Giác Phật (Pratyéka Bouddha) và khoảng ba mươi Vị Đại Thánh đủ các cấp bậc lập ra Quần Tiên Hội.
          Ngài là Đấng Duy Nhất Chí Tôn cầm quyền Điểm Đạo (L’Unique Initiateur). Không có sự ưng thuận của Ngài thì không ai được vào Quần Tiên Hội.
          Trong hai kỳ Điểm Đạo đầu tiên, kỳ thứ nhất và kỳ thứ nhì Ngài thường nhờ Đức Bồ Tát thay mặt Ngài và nhân danh Ngài để Điểm Đạo.
          Qua kỳ thứ ba, thứ tư thì Ngài điểm hay là Ngài bảo một vị Độc Giác Phật, đệ tử của Ngài, nhân danh Ngài đặng Điểm Đạo.
ĐIỂM ĐẠO TẠI ĐÂU?
          1  –  Điểm Đạo lần thứ nhất tại cõi Trung Giới, Thí sinh ở trong Cái Vía.
          2    Điểm Đạo lần thứ nhì ở tại cõi Hạ Thiên, Thí sinh ở  trong Hạ Trí.
          3    Điểm Đạo lần thứ ba ở tại cõi Thượng Thiên, Thí sinh ở trong Thượng Trí.
          4    Điểm Đạo lần thứ tư ở tại cõi Bồ Đề, Thí sinh ở trong Kim Thân hay là Thể Bồ Đề.
          5    Điểm Đạo lần thứ năm tại cõi Niết Bàn, vị La Hán ở trong Tiên Thể.
          Điểm Đạo lần thứ sáu trở lên ở ngoài Địa Cầu, không tiết lộ ra.
ĐIỂM ĐẠO LÀ GÌ?
          Điểm Đạo ở cấp bậc nào là truyền phương pháp mở khai Tâm Thức về cấp bậc đó.
          Nói bóng dáng là trao chìa khóa mở cửa cõi Trời.
          Quí bạn muốn rõ thêm nhiều chi tiết xin đọc quyển Les Maitres et le Sentier của Đức Leadbeater, Huynh Nguyễn hữu Kiệt đã dịch ra đề tên Chơn Sư và Thánh Đạo, gồm hai quyển.
HẾT QUYỂN 2

 

ĐÂU LÀ CHÂN LÝ

(QUYỂN 3) 

CHƯƠNG THỨ NHẤT

ĐẠO VÀ TÔN GIÁO

          Tôi tưởng cũng phải nói vài lời về Đạo và Tôn giáo. Đạo là Luật Sinh Hóa Vũ Trụ Càn Khôn, ấy là Chân lý tuyệt đối.
          Khi một giống dân sinh ra thì Đức Bồ Tát lâm phàm. Ngài lập một Tôn giáo đem Chân lý ra dạy dưới một hình thức hợp với trình độ tiến hóa của giống dân đó về ba phương diện: Tánh tình, Phong tục và Trí tuệ.
          Thời gian qua, hình thức bên ngoài có thể thay đổi, đó là lẽ tự nhiên. Nhưng sự sống bên trong là Chân lý vẫn trường tồn bất diệt.
          Ta hãy xem cái lồng đèn có nhiều mặt kính, cái thì màu xanh, cái thì màu đỏ, cái thì màu tím, cái thì màu vàng, cái thì màu nâu. Nhiều người ngắm xem lồng đèn. Tùy theo vị trí của mình, người thì thấy cái đèn màu xanh, người thì thấy cái đèn màu đỏ, người thì thấy cái đèn màu tím, người thì thấy cái đèn màu vàng, người thì thấy cái đèn màu nâu. Ai ai cũng cho sự thấy của mình không lầm. Đúng vậy. Đúng về hình thức bên ngoài mà thôi.
          Nhưng khi mở cái lồng đèn, thì người ta chỉ thấy có một ngọn đèn trắng thôi. Ngọn đèn đó là Chân lý, là Đạo.
          Nhưng người ta thích cái nhãn hiệu bên ngoài và lấy nó làm tự hào, chứ ít ra công suy nghĩ đặng xét coi những điều của Tôn giáo mình dạy, cái nào đúng với lẽ phải, cái nào không đúng.
CÓ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ HAY KHÔNG ?
          Phật giáo không nói đến Thượng Đế.
          Phái Nam Tôn không công nhận có Linh Hồn mà nói chỉ có Nhân Quả truyền lại kiếp sau.
          Đó là quyền tự do tín ngưỡng của mỗi người, không ích chi mà xâm phạm nó. Tuy nhiên, cũng nên biết rằng tin tưởng là một việc, còn sự thật là một việc khác nữa. Xin lấy chuyện trước mắt mà nói.
          Chúng ta thấy rõ ràng sớm mai mặt trời mọc ở hướng Đông, còn chiều nó lặn về hướng Tây và mặt trăng cũng lặn cũng mọc. Không ai phủ nhận điều này, song sự thật thế nào. Nó khác hẳn điều người ta thấy. Trái đất xoay chung quanh mặt trời và mặt trăng xoay chung quanh trái đất. Bây giờ thí dụ: Ta không tin có Đức Thượng Đế, mà Ngài vẫn có thật. Sự tin của ta không gây ảnh hưởng nào đối với Ngài cả, Ngài vẫn  là Ngài. Có lẽ Ngài mỉm cười và nói: “Tới một ngày kia, con tiến hóa rồi, con sẽ biết được sự thật.”
          Ví như không có Đức Thượng Đế mà tạo ra Ngài thì hình ảnh này là hình ảnh giả chứ không phải hình ảnh thật. Tới một ngày nào đó, nó sẽ  tan rã.
          Cãi cọ với nhau làm chi, rất vô ích, không đi đến kết quả nào hết. Đã mất niềm hòa khí lại gây ra ác cảm với nhau không biết tới chừng nào mới chấm dứt.
          Bây giờ xin nêu ra câu hỏi:
ĐỨC PHẬT CÓ DẠY VỀ
ĐỨC THƯỢNG ĐẾ HAY KHÔNG?
          Tôi xin trả lời liền: Riêng tôi, tôi tin chắc Đức Phật có dạy về Đức Thượng Đế. Bằng chứng đó là: Bốn đức tánh của con đường Nhập môn và Bốn bậc Điểm Đạo gọi là Tứ Thánh.
          Con đường nhập môn và Tứ Thánh thuộc về Khoa Bí Truyền, khi xưa không được tiết lộ ra. Mặc, mặc, mặc, vô lượng Thần Tiên tùng thử đắc.
          Bước vào cửa Đạo làm một vị Tu đà huờn thì biết rõ lý do sinh hóa Thái Dương Hệ này và mục đích đã định sẵn cho con người thành một vị Siêu Phàm, khi sự tiến hóa của Dãy Địa Cầu này chấm dứt.
          Những vị đệ tử lớn của Đức Phật như Ma Ha Ca Diếp, A Nan Da, Mục Kiền Liên (Moggalâna), U Ba Li (Upali), Kiều Trần Như (Kaundinya), Xá Lợi Phất (Cariputra) v.v. . . . là những vị La Hán.
          Nhiều vị khác vào ba hạng dưới: A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà huờn.
          Mấy vị này luyện tập phương pháp khai mở Tâm Thức đặng mau trở nên trọn sáng trọn lành. Ban đêm trong giấc ngủ, các Ngài xuất thần lên mấy cõi cao đặng học hỏi và kinh nghiệm.
          Đối với các Ngài thì câu hỏi ở ngoài đời có Thượng Đế hay không có Thượng Đế không thành vấn đề nữa.
PHẬT GIÁO KHÔNG NÓI ĐẾN THƯỢNG ĐẾ
PHẢI CHĂNG LÀ MUỐN TRẢ ĐŨA BÀ LA MÔN GIÁO?
          Phải chăng vì muốn trả đũa Bà La Môn giáo cho nên Tín đồ Phật giáo mới không nói đến Thượng Đế, bởi vì Bà La Môn giáo tôn thờ Phạm Vương (Brahma là Đấng Chúa Tể Càn Khôn).
          Mặc dù đây là một ức đoán song rất hữu lý. Kinh sách phái Nam Tôn có ghi rõ ràng bốn đức tánh của con đường nhập môn, mười chướng ngại gọi là Samyojana và bốn bậc Thánh thì phải nhận được sự hiện hữu của Đấng Chí Tôn đã tạo lập Vũ Trụ nầy là Đức Thái Dương Thượng Đế.
          Ta thấy một ngôi nhà rất đẹp đẽ, ta trầm trồ khen ngợi rồi ta nói cái nhà này không ai cất, tự nhiên nó dựng lên thì có hữu lý hay không? Hay là vô lý?
          Đọc Túc Sanh Truyện, ta thấy trước khi tu hành đắc Đạo làm một vị Phật, Đức Thích Ca đã đầu thai làm thú ở dưới nước như Vua cá, thú ở trên bờ như Voi, Nai v.v. . . .
          Xin hỏi ai sinh ra mấy loài thú này? có phải Đức Thượng Đế hay không?
          Biết rằng mọi người có quyền tự do tin tưởng nhưng tôi tưởng chớ nên nói: Phật lớn hơn Trời. Nếu chữ Trời là chữ Thiên dịch ra, Thiên đây là các vị Thiên Thần thì còn có lý một chút.
          Riêng tôi, tôi tin rằng bất cứ là ai, nếu cố gắng trau giồi tâm tánh như lời Phật dạy: Lánh dữ, làm lành và rửa lòng trong sạch thì tới một ngày kia sẽ có những bậc cao minh tới dắt dẫn:
   TỪ CÕI GIẢ ĐẾN CÕI CHƠN
   TỪ CHỖ TỐI TĂM ĐẾN NƠI SÁNG SUỐT 
   TỪ CỬA TỬ TỚI CÕI TRƯỜNG SANH BẤT TỬ.

 

CHƯƠNG THỨ NHÌ

KINH PHẬT TÀU CÓ DỊCH ĐÚNG Y
NGUYÊN VĂN KINH PHẬT ẤN KHÔNG?
          Bây giờ xin nêu ra câu hỏi: Kinh Phật Tàu có dịch đúng y nguyên văn Kinh Phật Ấn không? Sự thật không phải dễ mà trả lời câu hỏi này đâu.
          Trước nhất phải có bản chính chữ Phạn, Nam Phạn, Bắc Phạn và bản dịch chữ Nho, chữ Anh, chữ Pháp. Người đứng ra làm việc này phải có đủ ba yếu tố sau đây:
          Một là: Phải là một nhà tu hành chơn chánh.
          Hai là: Về Hán học và Phạn ngữ (Bắc Phạn và Nam Phạn), Anh văn và Pháp văn phải tới bậc Cử nhân hay Tiến sĩ.
          Ba là: Sẵn lòng phụng sự không háo hư danh, không vì tư lợi mà chỉ vì Chân lý và Phật Pháp.
          Thử hỏi, hiện giờ có được bao nhiêu người hội đủ ba điều kiện trên đây.
          Hơn nữa, tôi xin nhắc lại một lần nữa là Đức Phật và các vị đệ tử lớn không có viết một quyển Kinh nào để lưu lại hậu thế và rất tiếc người ta đã lạm dụng hai chữ Kinh Phật.
          Kinh dùng ngày nay vốn của đời sau đặt ra. Sau khi Phật nhập Niết Bàn chưa được mười ngày thì các giáo phái và mười tám Trưởng Lão đã nổi lên công kích lẫn nhau và bất tuân kỷ luật. Phái nào cũng nói mình thọ được chơn truyền mà thực sự là họ tin tưởng không biết bao nhiêu là chuyện dị đoan phi lý.
          Vì thế có Bốn lần Phật Giáo Hội Nghị để sửa đổi: Hội nghị lần thứ tư mở ra khoảng phân nửa sau của thế kỷ thứ nhất tại Jalandhara do Parcva và Vasoumitra đề xướng và Vua xứ Cachemire là Kanishka (Ca Nhị Sắc Ca) chủ toạ.
          Hiện giờ không dễ mà phân biệt cái nào đúng với Chân lý cái nào không đúng trong nhiều quyển Kinh Phật phổ biến khắp nơi.
Ý KIẾN CỦA ÔNG LÉON WIEGER
VỀ NHỮNG KINH PHẬT TÀU DÙNG HIỆN NAY
          Trong quyển II Phật Giáo Trung Hoa, Chương Ba Tạng Kinh, trang 111 (Le Bouddhisme Chinois, Tome II Le Tripitaka – page 111)[16] ông Wieger có viết đoạn này:
          “Ở Ấn Độ vì những cuộc chiến tranh và những sự ngược đãi, nhiều bản chánh Kinh Phật bị tiêu diệt. Những nhà Ấn Độ học, trong vòng nửa thế kỷ nay, làm việc đặng tái lập và sắp đặt lại những gì còn lại của những bản Kinh Sanh-ga-li (Cingalais – Nam Phạn – Pali), những bản Nê-ba-li (Népalais – Bắc Phạn – Sancrit).
          Bên Trung Hoa vì giặc giã chiến tranh vì những sự ngược đãi, nhiều bản dịch xưa cũng mất hết rồi. Nhưng mà những bản dịch còn lại thì nhiều lắm. Bây giờ chỉ còn một việc là duyệt lại những bản kinh dịch rồi so sánh lại với bản chánh chữ Phạn. Theo những điều tôi nhận xét từ trước cho đến nay thì:
          Một là: Có những bản dịch chữ Hán mà bản chánh chữ Phạn không có cách gì tìm lại được.
          Hai là: Vài bản dịch chữ Hán đúng y nguyên văn chữ Phạn, bản chánh bây giờ vẫn còn. Câu văn của những trực dịch này không được suông sẻ. Cách hành văn Ấn giữ nguyên vẹn nhiều chữ Phạn chỉ âm ra.
          Ba là: Có những bản thoát dịch quá lố: dịch giả đảo lộn thứ tự, thay đổi những đoạn văn, những bài văn, cắt đứt những gì không hợp với thị hiếu của người Trung Hoa, phóng đại những gì họ thích, đem quan niệm Triết học Trung Hoa thay thế quan niệm Triết học Ấn v.v. . . . Các quyển này viết rất hay, văn pháp tuyệt diệu, vì lẽ gì, người ta đã thừa biết. Các quyển này, đối với những người Ấn Độ học thì có lẽ không có gì lý thú, nhưng chúng rất có ích với những người Trung Hoa.”
Nguyên văn chữ Pháp:
          “Par suite des geurres et persécutions dans l’Inde, beaucoup d’originaux Bouddhiques ont péri. Les Indianologues travaillent, depuis une cinquantaine d’années, à reconstituer et à édifier ce qui reste textes cingalais en Pâli, textes népalais en Sanscrit.
          En Chine, par suite les geurres et persécutions beaucoup de traductions anciennes ont aussi péri, mais ce qui reste est considérable. L’indentification de ces textes Chinois avec les textes Indiens à faire.
          Pour autant que j’ai pu constater jusqu’ici:
          1 – Il existe des traductions chinoises dont l’original Indien n’a pas encore été retrouvé.
          2 – Quelques traductions chinoises reproduisent fidèlement des textes indiens encore existants. Le style Chinois de ces traductions littérales est détestable, la construction indienne ayant été conservée et beaucoup de mots n’ayant été que translittérés.
        3 – Bon nombre de textes chinois sont des interptrêtations très libres de textes indiens encore existants. Les interprêtes ont interverti l’ordre, changé de morceaux, retranché ce qui choquait leur gout chinois, amplifié ce qui leur plaisait, subtitué des notions philosophiques chinoises aux notions philosophiques indiennes ect . . .
          Les traités sont bien écrits, en bon style pour cause. Moins intéressant peut être pour les Indianalogeus, ils sont un intérêt sinologique considérable.”
          Vậy xin các nhà Phật học uyên thâm Trung Hoa và Việt Nam bày tỏ ý kiến về mấy lời xét đoán của ông Léon Wieger nói trên đây.
 *
          Quả đúng như lời ông Léon Wieger đã nói:
          Ở Ấn Độ, những cuộc ly loạn, những sự thay đổi các thời đại Vua Chúa, những biến cố lớn thường xảy ra, nhất là khi Ấn Độ bị Hồi giáo chinh phục, chùa chiền bị tàn phá, nhiều vị Sa môn phải ôm Kinh kệ chạy trốn bên Tây Tạng mới khỏi chết.
          Cách đây vài chục năm, một nhà Bác học là ông Pandit Rai Bahadur Sarat ở tại Bengale có thấy cả trăm bộ Kinh Phật trong Tàng thơ viện của nhiều Tu viện ở Tây Tạng. Ông có sao lục được nhiều bộ Kinh rất quí. Chính phủ Ấn giao cho ông nhiệm vụ xuất bản những Kinh này.
          Còn bên Trung Hoa, cũng không khác gì ở Ấn Độ. Phật giáo cũng phải chịu ảnh hưởng của những cuộc cờ hưng phế. Nhất là khi giặc Hung Nô qua xâm chiếm, Kinh kệ bị thiêu đốt rất nhiều. Nhưng chỉ tiếc một điều là ông Léon Wieger đã không kể cho chúng ta biết tên vài quyển Kinh thuộc về mỗi loại, nhất là những Kinh thuộc về loại thứ Ba. Hiện giờ người ta có thể tìm bản dịch chữ Anh và chữ Pháp của bản chánh rồi so sánh lại với bản dịch chữ Hán thì biết được: Đâu là Chân lý.

CHƯƠNG THỨ BA

KINH PHẬT TRUYỀN SANG TRUNG HOA HỒI NÀO?
          Hai quyển kinh Nam Tôn Samana Pâsadika và Sârattha Dipani nói rằng trong thế kỷ thứ III trước Thiên Chúa giáng sinh vua Asoka – A Dục – sai năm nhà Sư đem Kinh Phật sang Trung Hoa, mỗi vị ở một địa phận khác nhau song không thấy nói tên mấy vị ấy.
          Sử sách Trung Hoa không có ghi nhận điều này. Mà nói đời Hậu Hán, Vua Minh Đế (65-67) cho mời hai vị Sa môn qua Trung nguyên, vị thứ nhất là Kasyapa Mâtanga – Ca Diếp Ma Đằng – vị thứ hai là Dhama Aranya – Trúc Pháp Lan. Hai vị không có dịch Kinh mà vâng theo chỉ thị của Vua, chỉ viết toát yếu sự tích Đức Phật, giáo lý của Ngài, đời sống thanh tịnh của các Tăng đồ, cách Trì trai, giữ Giới. Ca Diếp Ma Đằng từ trần một năm sau khi qua Trung Hoa, còn Trúc Pháp Lan cũng bỏ xác năm 70.
*
HAI NHÀ SƯ CÓ CÔNG LỚN TRONG VIỆC
THỈNH KINH PHẬT TỪ ẤN ĐỘ VỀ TRUNG HOA
I
PHÁP HIỂN
          Pháp Hiển qua Tây Vức năm 399, Ngài vượt qua Sa mạc Gô Bi (désert Gobi) gọi là Sa mạc Qua Bích, viếng Tartarie, Caboul, Cachemire, Candahar, Punjah và những danh lam thắng cảnh, khi xưa đã nổi danh trong Kinh sách Phật giáo.
          Ngài thấy những Tháp hùng vĩ do Vua A Dục (Asoka) dựng lên tại:
          1     Lumbini – Lâm Tỷ Ni – chỗ Đức Bồ Tát giáng sinh.
          2     Bồ Đề Đạo Trường – Bouddhi-Gaya – tại rừng Gaya, dưới gốc cây Bồ Đề (Pippala) chỗ Đức Bồ Tát tham thiền và chứng quả Phật.
          3     Lộc Uyển hay Lộc Dã Viên [17] Mrgadava (Parc aux gazelles) gần Ba Nại La (Bénarès) – Chỗ Phật thuyết Pháp lần đầu tiên. Phật Chuyển Pháp Luân.
          Có chỗ đề là Sarnath vì Lộc Uyển khi xưa ở tại Sarnath cách Ba Nại La hiện thời lối bốn dặm.
          4     Kousinara – Chỗ Phật nhập Niết Bàn.
          Pháp Hiển đi lên miền Bắc, không tìm được những quyển Kinh quý báu mà bấy lâu nay Ngài muốn có. Nhưng Ngài gặp chúng nó tạiPatna và Kosala. Tại Patna Ngài thấy một thứ Dưỡng đường (Hôpital) mà bên Trung Hoa chưa biết cách tổ chức này.
          Tại Mathoura Phật giáo, Ngài nhận thấy rằng không có việc xử tội nhân, trừ ra những người Thủ đà la.
          Người ta chỉ phạt vạ thôi. Những người phạm tội thì bị chặt tay.
          Không có hàng thịt, không có chỗ bán rượu.
          Người ta không giết hại sinh vật. [18]
          Cuối cùng, từ vàm sông Hằng Hà (Gange) Pháp Hiển đáp thuyền qua Tích Lan, vào một Tu viện chứa trên năm ngàn Tỳ Kheo trong vòng hai hay ba năm.
          Tới năm 414, sau 15 năm học hỏi và kinh nghiệm, ông xuống thương thuyền đi Viễn Đông. Trên tàu có khoảng hai trăm hành khách. Gặp một trận bão lớn thuyền vô nước, người ta phải liệng hàng hóa xuống biển. Pháp Hiển mới van vái Đức Phật Quán Thế Âm phò hộ và thương xót những người Phật Tử Trung Hoa đang khao khát Chân lý. Thùng Kinh kệ của Ngài được chừa   lại. Thuyền tấp vào một bãi cát, người ta mới vá lại chỗ bị lủng rồi cho thuyền ra khơi.
          Bị một trận bão thứ nhì, chiếc thuyền trôi dạt trên 90 ngày, rồi ghé vào bờ biển Java. Pháp Hiển bèn sang qua một chiếc thuyền khác. Trọn 82 ngày chiếc thuyền này cũng bị sóng dập gió dồi, anh chủ thuyền không còn định được phương hướng nữa. Pháp Hiển cứ cầu nguyện Đức Phật Quán Thế Âm. Sau rốt chủ thuyền mới nói: Chúng ta đã đi tới Quảng Đông (Canton). Trong khi mọi người sắp chết khát thì thuyền ghé vào đất liền. Ấy là địa phận Quảng Đông.
          Quan Thái Thú hay tin trên thuyền có một nhà Sư đã thỉnh Kinh từ  Tây Vức về Trung Hoa thì cho người tiếp rước tử tế và đưa Pháp Hiển về Nam Kinh.
          Từ đó về sau Pháp Hiển vào ở trong một cái Chùa, trì trai, giữ giới và tham thiền nhập định. Tới 86 tuổi thì viên tịch.

II

TRẦN HUYỀN TRANG
          Ngài trốn qua Tây Vức năm 629 đời Đường Thái Tông. Có chỗ nói lúc đó Ngài 28 tuổi, có chỗ nói Ngài 30 tuổi. Cuộc hành trình của Ngài kéo dài 17 năm, đi một năm, về một năm, ở Ấn Độ 15 năm.
          Lúc đi dọc đường Ngài thuyết pháp tại Khan của những người Thổ Nhĩ Kỳ trong thành Soutchi (ấy là những người Tu Ra Nhen tại Tân Cương – Touraniens du Turkestan. [19]
          Tại Samar Kande, Vua và dân chúng thờ lửa (Hoả giáo), Ngài phục hưng Phật giáo.
          Tới Balk, Ngài thấy Phật giáo còn hưng thịnh. Tại đó có 100 Tu viện, chứa 3 000 Tỳ Kheo đang học hỏi Giáo lý Tiểu Thừa. Có nhiều Kinh sách Phật và Xá Lợi.
          Ở Cachemire, người ta rất sùng tín Phật giáo. Ngài gặp tại Thủ đô khoảng 100 chùa lớn, trong đó có 5.000 Tỳ Kheo lo tu học. Ngài thấy bốn  cái Tháp xưa do Vua A Dục đã dựng lên, trong mỗi Tháp đều có để Ngọc Xá Lợi.
          Huyền Trang rất cảm động mà thấy cảnh vật điêu tàn ở những chỗ xưa kia đã nổi danh trong lịch sử Phật giáo như:
          Kaucambi (Câu Đàm Di) – Kapilavastou (Ca Tỳ La Thành) – Ramagrama – Koucinagara – Cravasti (Xá Vệ) – Vaisali (Xá Lị Quốc) – (Quảng Nghiêm).
          Dân chúng trong xứ đã trở về với Bà La Môn giáo.
1 – TẠI XÁ VỆ (CRAVASTI)
          Tại Xá Vệ, Ngài gặp một số ít Tu sĩ thuộc về Trường của những người Sammatyas. Họ giữ gìn sự tích thuở xưa của 500 Cô gái Sát Đế Lỵ (Kshatriya) được tuyển chọn làm Cung nữ, song bất tuân mệnh lệnh nên bị chặt tay, chặt chân.
          Đức Phật mới sai một vị Tỳ Kheo tới thuyết Pháp cho họ nghe trước khi họ từ trần.
          Dân chúng tại Xá Vệ, phân nửa theo Phật giáo, phân nữa theo Bà La Môn giáo. Tất cả đều hiếu học và có đức hạnh.
2 – TẠI KAPILAVASTOU (CA BI LA QUỐC)
          Tại Ca Bi La Quốc có mười cái thành, khi xưa là chốn phồn hoa đô hội, ngày nay đã trở nên hoang vu tịch mịch, những làng xóm thì dân cư thưa thớt. Không còn Vua nữa, mỗi khu vực đều có một vị thủ lãnh đặc biệt cai trị.
          Người ta còn thấy di tích một ngàn Tu viện đã sụp đổ. Gần một bên đền Vua là Tịnh xá của 30 Tu sĩ thuộc về Trường của những người Sammatyas.
          Cung điện xây bằng gạch vẫn còn đứng vững với thời gian. Trong Hoàng cung vẫn còn hình tượng của Vua Tịnh Phạn Vương (Suddhodana) và Hoàng Hậu Maya.
          Chính giữa một Tịnh xá ở góc Đông Nam của Kinh thành có dựng hình Đức Bồ Tát cỡi Bạch Tượng bay lên trên không.
          Khoảng 30 lí [20] phía Nam Kinh thành có một cái Tháp để ghi chỗ Đức Thích Ca gặp lại Vua cha sau khi đắc Đạo. Một cái Tháp ở gần đó đựng hài cốt Đức Phật. Trước Tháp có một cột đá khoảng 10 thước bề cao, trên chót có hình Sư Tử, bốn phía có những hàng chữ thuật chuyện Krakucchanda nhập Niết Bàn.
          Khoảng 40 lí phía Bắc Kinh thành có một cái Tháp để kỷ niệm chỗ người ta gặp Đức Thích Ca ngây ngất trong lúc tham thiền tại vườn cây. Ba mươi thước phía Đông Bắc Kinh thành người ta dựng một cái Tháp để kỷ niệm chỗ Đức Phật thuyết phục được Vua cha qui y.
          Phía Tây Bắc Kinh thành có cả trăm cả ngàn cái Tháp để ghi nhớ chỗ dòng Thích Ca bị hy sinh, tục truyền rằng tới 999 triệu.
          Tôi tưởng số này quá lố, không đúng với sự thật. Nói một hai chục ngàn cũng nhiều lắm rồi, có đâu tới 999 triệu hơn dân số Trung Hoa hiện thời, mà xưa kia Kapilavastou cũng không phải là quốc gia rộng lớn như Trung quốc hiện kim.
          Nói tóm lại, bất cứ chốn nào có liên quan đến đời sống của Đức Phật đều có một cái Tháp dựng lên để kỷ niệm.
          Ở ngoài cửa hướng Đông, có một cái Tháp để kỷ niệm chỗ Thái Tử Sĩ Đạt Ta học hỏi nghệ thuật. Cũng có một đền thờ Thượng Đế Isvara Dêva, tục truyền rằng lúc Đức Phật mới sinh ra thì được đem trình diện với Đức Thượng Đế tại chỗ đó. Trong đền thờ có một cái hình Đức Thượng Đế rất lớn.
3 – TẠI BA NẠI LA (BÉNARÈS)
          Tại Ba Nại La, Ngài nhận thấy:
          a –  Dân chúng đều thích học hỏi.
          b –  Một số ít Phật tử, 3.000 Tăng chúng theo Phái Tiểu Thừa.
          c –   Hai mươi cái chùa và nhiều miếu đường rất đẹp.
          d –  Mười ngàn Tu sĩ tôn thờ Thượng Đế Shiva, trong số đó có những Pacoupathas tu khổ hạnh, bôi tro cùng mình.
         e –   Những Tu sĩ Nigrantas trần truồng. Họ là những người Djainas thuộc về một Trường Triết học Ấn, trái với thuyết chính thống. Những người Djainas trước nhất sống với tình huynh đệ đại đồng và sự an tịnh.
          f –   Một cái hình Thượng Đế Shiva bằng đồng 30 thước bề cao, oai nghi lẫm liệt.
          g –  Cuối cùng ở phía Đông Bắc thành phố có một cái Tháp 33 thước bề cao do Vua A Dục dựng lên.
4 – TẠI VAISALI (XÁ LỴ QUỐC)
          Tại Xá Lỵ Quốc, chỗ nào có liên quan đến đời sống của Đức Phật thì chỗ đó có một cái Tháp dựng lên. Có hàng trăm Tu viện, phần đông đã điêu tàn. Chỉ còn lại một số ít tu sĩ.  Dân chúng phân nữa theo Phật giáo, phân nửa theo Bà La Môn giáo, nhưng tất cả đều siêng năng và hiếu học.
5 – TẠI MAGADHA (MA KIỆT ĐÀ)
          Tại Magadha trên bờ sông Hằng Hà (Gange) dân chúng cũng phân nửa theo Phật giáo, phân nữa theo Bà La Môn giáo.
          Có 10.000 Phật tử theo phái Đại Thừa.
          Ở những chỗ đặc biệt nổi tiếng trong đời sống của Đức Phật, như chỗ Ma Vương cám dỗ, chỗ Ngài tắm v.v. . . . đều có dựng một cái Tháp để kỷ niệm.
6 – TẠI SARNATH (LỘC UYỂN)
          Thuở xưa Lộc Dã Viên ở tại Sarnath, cách Ba Nại La hiện kim (Bénarès moderne) khoảng 4 dặm. Lộc Dã Viên là chỗ Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên nói về Khổ, Tập, Diệt, Đạo, người ta gọi là Đức Phật Chuyển Pháp Luân.
          Tại đây người ta thấy những di tích của nhiều đền thờ Phật, các Tháp Chaukhandi, hình bát giác và di tích một Tịnh xá rất lớn hình một cái tháp.
          Đền thờ chánh hiện giờ giống hình một cái ổ ong tên là Dhamek, tức là Dharma : Pháp. Bề trực kính của cái nền dài 30 thước, vòng tròn đo được 957 thước và cao 42 thước. Phía dưới từ mặt đất lên tới 14 thước bề cao thì xây bằng đá, rồi từ đó lên tới chót thì bằng gạch. Có tám mặt với những khánh thờ trước kia có dựng những hình tượng mà bây giờ thì trống trơn.
          Tại đây không có hài cốt, ấy là một Đài kỷ niệm.
7 – ĐẠO VIỆN TẠI LỘC DÃ VIÊN (MRGADAVA)
          Trong Đạo viện tại Lộc Dã Viên có 1.500 Tu sĩ thuộc về Trường của những người Sammatyas.
          Tu viện chia ra làm tám phần, chung quanh có tường thành bao bọc. Có những bao lơn, những lầu hai tầng, cách kiến trúc rất đẹp đẽ. Ở chính giữa có một cái Tháp từ mặt đất lên tới chót 70 thước bề cao, ở trên chót lại có hình nổi của một trái xoài bằng vàng. Chung quanh Đạo viện có một trăm hàng khánh thờ bằng gạch chồng chất cái này lên cái kia. Mỗi khánh thờ đều có hình nổi của Đức Phật bằng vàng.
          Chính giữa cái Tháp có hình Đức Phật bằng đồng tác bằng người thường đang Chuyển Pháp Luân.
          Trong vòng thành có nhiều Thánh điện.
          Trong phần Tây Nam, người ta thấy một cái Tháp 33 thước bề cao do Vua A Dục dựng lên. Trước Tháp có một cây cột 25 thước bề cao bằng đá, láng bóng như ngọc bích và chói sáng như mặt kính.
          Chính là tại chỗ này khi xưa Phật bắt đầu Chuyển Pháp Luân.
          Cũng có ba cái ao, nơi đó Đức Phật xuống tắm và giặt quần áo.

CÂY BỒ ĐỀ

          Phía Tây Bắc núi Pragbodhi có cây Bồ Đề (L’Arbre Bodhi – Pippala – Bodhidruma) ở chính giữa một vòng thành bằng gạch chu vi khoảng 250 thước.
          Dưới gốc cây là ngôi Bồ Đề Kim Cương (Trône de diamant – Bodhimanda) chỗ Bồ Tát ngồi tham thiền chứng quả Phật. Chung quanh là những Tịnh xá.
          Phía Đông chốn này có một cái Tịnh xá 60 thước bề cao, lợp ngói tô màu xanh, bốn mặt đều có những hình rất đẹp bằng bạc. Ở trên hết có hình trái Amalaka bằng đồng đỏ.
          Phía tay mặt và tay trái của cửa cái có những khánh thờ hình Đức Di Lạc (Maitreya) và Đức Quán Thế Âm (Avalôkitêcvara). Ở trong có một cái hình Đức Phật rất lớn bằng vàng.
          Phía Nam cái cây có một cái Tháp do Vua A Dục dựng lên. Phía Đông  có hai cái Tháp để ghi nhớ chỗ Ma Vương đề nghị cho Phật làm Vua cai trị thế gian.
          Trong một Tịnh xá ở phía Tây Bắc người ta thấy hình Đức Phật Ca Diếp, nổi tiếng là Thần thông Quảng đại truyền phép mầu lại cho những ai tin tưởng Ngài. Gần cửa cái bên trái, phía ngoài có một cái hồ lớn khoảng 490 thước châu vi, nước trong vắt như tấm kính. Phía Đông là cái ao của Vua Rắn (Xà Vương) Mucalinda.
BỒ ĐỀ ĐẠO TRƯỜNG (BOUDDHA GAYA)
          Chỗ Thánh thiện nhất trong Lịch sử Phật giáo là Bồ Đề  Đạo Trường (Bouddha Gaya). Đền thờ Phật nổi tiếng nhất là đền thờ hình chóp (Pyramide) tại Bồ Đề Đạo Trường.
          Ông Villiam Monier có vẽ hai cái hình của đền thờ này trong tác phẩm chót của ông xuất bản năm 1890. Ngài Huyền Trang có đề cập đến đền thờ do Vua A Dục dựng lên. Nó đã sụp đổ, nhưng ngày nay người ta vẫn còn thấy di tích của nó.
          Qua phân nữa thế kỷ thứ III, người ta mới dựng lên tại nền cũ một cái đền mới mà Ngài Huyền Trang đã mô tả. Nó có 20 tầng, mỗi tầng đều có những khánh thờ. Trong mỗi khánh thờ đều có một hình Đức Phật bằng bạc. Đền thờ là một Đài kỷ niệm, không có chứa đựng hài cốt.
          Sau đền thờ, chỗ bực đất đấp cao bao bọc đền thờ cũ, người ta thấy cây Bồ Đề, nó đã khô héo. Người ta nói tại những người Miến đi hành hương, lấy vàng lá phết lên tất cả những cục đá ở chung quanh gốc cây, cho nên cây phải chết. Nhưng từ rễ cây mọc lên một cây khác ở gần một bên cây cũ. [21]
          Chính phủ Miến có gởi tới một trăm ngàn quan để dùng vào việc tu bổ đền thờ và làm một vòng thành bao bọc bên ngoài.
          Chính phủ Anh lo lắng về công việc này và tốn tất cả gần ba trăm ngàn quan.
          Ngày nay đền thờ được 57 thước bề cao.
          Thánh điện ở dưới cái Tháp chánh, ấy là một cái phòng nhỏ hình vòng cung, ánh sáng rọi vô nhờ có cửa cái. Ở cuối đền thờ, có hình Đức Phật ngồi chứng minh trên một cái ngai có năm trụ. Ngai này tượng trưng Ngôi Bồ Đề Kim Cương. Dưới chân của cái bệ có chạm hình hai con voi và hai con sư tử.
          Cây Bồ Đề mới tươi tốt, nhành lá sum sê. Những khách hành hương, Phật tử và có những người Bà La Môn thường tới chiêm ngưỡng.
          Phía trước đền thờ, ở gần phía tay mặt có hai cái điện nhỏ tên Taradevi và Vagisvari.
          Ông Sir Cuningham có đào lên được một phần ba cái bao lơn còn tốt của Vua A Dục, có khắc chữ và những hình bông sen. Người ta mới làm một cái bao lơn mới bằng gạch bao bọc đền thờ giống y kiểu cũ. Nhưng người ta có chạm trên bao lơn những hình nổi để nhắc nhở những việc liên quan với đời sống của Đức Phật.
          Tại miếng đất ở chung quanh Đạo Trường, người ta thấy những Tháp của Vua A Dục và những người khác dựng lên khi xưa nay đã trở thành những đống gạch vụn, cảnh vật điêu tàn.
          Nhưng Bồ Đề Đạo Trường là Thánh Địa của Phật giáo cũng như Jérusalem là Thánh Địa của Hồi giáo. 2.500 năm đã trôi qua mà Thần lực và Từ điển của Đức Phật vẫn còn tại chỗ này.
          Bồ Đề Đạo Trường cho nhiều bằng chứng về những sự liên quan cộng đồng mật thiết và những sự trao đổi và những sự nhờ cậy lẫn nhau giữa phái tôn thờ Thượng Đế Vishnou (Vishnouisme) và Phật giáo, đúng như luận cứ của ông E. Sénart.
          Phía tay mặt cửa vô đền thờ chánh, trên nền của cái mô đất, có hình tượng của Vishnou, Shiva, Parvati và Ganésa. [22]
          Tại Bồ Đề Đạo Trường có đủ hình Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng đã hư hoại chút ít.
          Ở chính giữa, Đức Phật đứng chứng kiến.
          Bên mặt, Tăng già cầm trong tay trái một cái bông sen đã nở ra và để chân mặt thòng xuống.
          Bên trái là Pháp (Dharma), một người đàn bà ngồi gần cái bông sen nửa búp nửa nở, chân mặt thòng xuống, tay mặt úp lên trên vế, tay trái thì đưa lên trong bộ điệu giảng giải.
CHỖ ĐỨC BỒ TÁT NHẬN LÃNH SỮA CỦA CÔ GÁI NANDA (NAN ĐÀ)
          Trên bờ sông Hằng Hà (Gange)[23] người ta chỉ cho Huyền Trang xem chỗ cô Nan Đà, con gái của ông chủ những bầy chiên dâng sữa cho Đức Bồ Tát sau khi   Ngài tỉnh dậy. Cũng tại chỗ đó những người lái buôn, dâng mật và bông hoa cho Ngài và Ngài từ chối không nhận những bình bát rất đẹp do bốn vị Hoàng Đế cúng cho Ngài.
          Tại chốn này người ta dựng lên một cái Tháp để kỷ niệm những việc   trên đây.
          Ngài Huyền Trang cũng thấy Tịnh xá Trúc Lâm Viện (Vénouvana) Vénouvon và di tích thành Razagio. Vòng thành bên ngoài đã tiêu mất, không còn dấu vết nào cả. Những tường bên trong thì sụp đổ tan tành.
DỪNG BƯỚC TẠI NALANDA
          Ngài Huyền Trang dừng bước tại Chùa Na Lan Đà, nơi đây có 10.000 Tu sĩ và tân tín đồ, người thì theo Đại Thừa, người thì theo 18 trường cũ. Các chi phí đều do Vua và những thành lân cận đài thọ. Tại đây người ta học hỏi các môn học của thời đại đó như: Kinh Phệ Đà (Védas), văn phạm, toán học, cho tới chiêm tinh và y học. Có một trăm giảng đường khác nhau.
          Thuở đó tại Ấn Độ, Na Lan Đà là nơi nổi tiếng về tài ba lỗi lạc của các vị Giáo sư và sự hăng hái chuyên cần của các học sinh. Có tới 10.000 Tu sĩ có thể giảng giải rành rẽ hai chục quyển sách nói về kinh kệ của các Đạo.
          Một bức tường thành bao bọc tất cả những Tu viện và những đền thờ. Cách chạm trổ và trang trí Tu viện và đền thờ hết sức tốt đẹp. Gần Na Lan Đà có năm Tịnh xá và ba cái Tháp để nhắc nhở sự tích đời sống của Đức Phật, một tượng Phật bằng đồng và hai tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.
          Trong những Tịnh xá ở kế cận, Tăng chúng theo Phái Tiểu Thừa.
          Có chỗ nói rằng tại Chùa Na Lan Đà, Ngài Huyền Trang thọ giáo với Ngài Giác Hiền Luận Sư (Silabhadra).
          Còn nữa, nhưng xin chấm dứt nơi đây.
          Nói tóm lại, Ngài Huyền Trang đã viếng tất cả 128 nước ở Ấn Độ trong vòng 15 năm.
          Ngài đem về Trung nguyên:
          a – 520 quyển nhỏ bằng lá Ta la (Tâlas) cuốn tròn lại, ấy là những bản sao y nguyên văn 657 bộ Kinh gồm những qui luật của Giáo hội Tăng Già. Những quyển giải về triết học của những trường khác nhau. Trong số Kinh này có 124 bản Kinh của Đại Thừa.
          b –   150 Ngọc Xá Lợi của Đức Phật.
          c –    Những đồ trang trí trong lúc lễ bái.
          d –   Những cây Bồ Đề nhỏ nhận châu ngọc.
          e –  Những hình Phật nhỏ bằng vàng, bằng bạc và bằng bạch đàn tượng trưng lúc Đức Bồ Tát giáng phàm, lúc Ngài tham thiền dưới gốc Bồ Đề.
          Ngài dịch nhiều Kinh Phật chữ Phạn ra chữ Hán và nhiều bộ Kinh chữ Hán ra chữ Phạn.
          Ngài là một vị Phật tử đức hạnh vẹn toàn, học lực uyên bác và có biệt tài nhiều môn như: Ngữ học, Sử địa, Dịch thuật, cho tới ngày nay cũng chưa có người sánh kịp với Ngài về ý chí cương quyết, kiên nhẫn phi thường, lòng sùng Đạo chân thành, bất biến.
          Đầu mùa Xuân năm 664, Ngài đi qua cầu trợt té bị thương rồi ngày sau viên tịch, không biết được bao nhiêu tuổi.

CHƯƠNG THỨ TƯ

PHẬT GIÁO CHỈ CÓ MỘT PHÁP MÔN MÀ THÔI CHỨ KHÔNG PHẢI TÁM MƯƠI BỐN NGÀN PHÁP MÔN
          Một hôm nọ, một người bạn trẻ ghé thăm tôi rồi nói: Tôi có hầu chuyện với một vị Phật tử. Vị đó nói Phật giáo có tám muôn bốn ngàn phép tu hành gọi là 84 ngàn Pháp môn. Vậy huynh nghĩ thế nào?
          Tôi mới đáp: Phật giáo chỉ có một Pháp môn mà thôi là: Rửa lòng trong sạch. Mà muốn rửa lòng trong sạch thì phải lánh dữ và làm lành.
          Từ ngàn xưa Chư Phật đều dạy như thế. Bởi vì phải Rửa lòng trong sạch mới bước vào cửa Đạo được. Vào cửa Đạo rồi mới học được phương pháp khai mở Tâm Thức, biến đổi con người thành một vị Siêu Phàm trong một thời gian sau đó, mau hay chậm, tuỳ theo công phu của hành giả.
          Còn 84 ngàn Pháp môn mà vị Phật tử nói đó là 84 ngàn sắc lệnh của Vua A Sô Ca – A Dục – ban hành để tán dương Phật Pháp(84.000 édits du Roi Asoka).
          Mà trước khi bàn đến những sắc lệnh đó, tôi xin nói vài lời về tiểu sử của Vua A Dục, trước và sau khi qui y.

VÀI LỜI VỀ TIỂU SỬ CỦA VUA A DỤC TRƯỚC VÀ SAU KHI QUI Y 
TRƯỚC KHI QUI Y
          Về tiểu sử Vua A Dục, trong Kinh sách Ấn Bắc Phạn và Nam Phạn có đoạn khác nhau.
          Như trong quyển Les Inscriptions d’Asoka (Những sắc lệnh của Vua A Dục), trang 15, ông Jules Bloch, Giáo sư Pháp quốc Cao Đẳng Học Viện (Professeur au Collège de France) nói Hoàng Đế Bindusâra có mười sáu người vợ và 101 người con trai. Theo Kinh Sanh-ga-le(Cingalais) Nam Phạn thì con trai đầu lòng là Sumana. Còn theo Kinh Bắc Phạn thì Hoàng Tử, con trai cả, tên Susina. Còn người con út tên là Tissa. Mẹ của Tissa nhờ mưu mô nên được tôn làm Hoàng Hậu. Hoàng Hậu còn một người con trai nữa lúc sinh ra không đau đớn chi cả nên  đặt tên  là Asoka. Chiết tự ra: A nghĩa là không, còn soka là đau đớn. Da thịt của đứa bé này cứng rắn, không mềm mại như thân thể những đứa trẻ khác. Vua rất ghét nó. Hoàng Hậu phải bồng nó chạy trốn mới khỏi bị vua giết.
          Khi Asoka khôn lớn, Vua sai Asoka đi dẹp giặc ở Penjab, nhưng cấp phát lương thực và binh lính không đủ vào đâu. Nhưng nhờ Thần Thánh giúp đỡ, dân chúng cảm mến Asoka, nên qui hàng. Loạn không dẹp mà yên, không đổ một giọt máu.
          Khi Hoàng Đế Bindusâra băng hà, Thần Thánh bảo phải tôn Asoka lên kế vị. Asoka và Phó Vương Ujjayini, lập tức trở về Pataliputra. Công việc đầu tiên là lo diệt hết 99 anh em, trừ ra em út là Tissa trốn thoát.
          Vì những hành động này và nhiều việc tàn ác khác, người ta mới gọi Asoka là Candasoka, tức là Asoka hung bạo.
          Bốn năm sau khi lên ngôi, Vua A Dục nghe theo lời của một người cháu là một vị Tỳ Kheo, nên qui y Phật Pháp.
          Còn trong quyển Ấn Độ sau khi Đức Phật ra đời (L’Inde après le Bouddha), tác giả là ông Lamairesse thuật lại như sau, trang 43:
          Hoàng Đế Mémita dòng dõi Nhựt Tinh (Race du Soleil) cai trị Vương quốc Tchampana, thuộc về Kourous.
          Hoàng Đế có sáu người con trai chánh thức và một người nữa tên là Asoka. Mẹ của Asoka là con gái của một vị thương gia.
          Mémita ban cho Asoka một phần đất là thành Patalipoutra (ngày nay là Patna) để thưởng công lao Asoka đã dẹp yên dân chúng xứ Népal, và những người sơn cước nổi loạn. Mémita sai các người con đánh chiếm những tỉnh của Magada vốn là sở hữu của một người Bà La Môn
          Mémita chết thình lình, các quan Đại Thần mới tôn Asoka lên kế vị vua cha.
          Asoka mới giết hết mấy người anh và mở rộng biên giới từ Hy Mã Lạp Sơn tới núi Vindhya, bao gồm phía Bắc và Trung tâm bán đảo Ấn Độ.
TÁNH TÌNH
          Trong mười năm đầu tiên sau khi lên ngôi báu, Vua A Dục rất hậu đãi những người Bà La Môn. Ngài đắm mê sắc dục, người ta gọi Ngài là Kamachoka tức là người ưa thích những sự khoái lạc của xác thịt.
          Ngài làm những việc hung bạo, người ta gọi Ngài là Tchandachoka tức là người hành tội.
          Lúc mới lên ngôi, Ngài ra lệnh giết hết mấy anh em, trong số đó chỉ có một người tranh giành Vương vị với ông mà thôi.
          Chính là Ngài ra lệnh chặt đầu 500 quan Đại Thần phản đối Ngài. Và chỉ có một sự xúc phạm nhỏ mọn mà Ngài ra lệnh thiêu sống 500 cung nữ.
          Ngài biết thiên hạ oán ghét Ngài lắm nên chọn tên Tchandagorika là một Đại hung thần khát máu làm Tả đao.
          Ngài ra lệnh cất cho y một một toà nhà bề ngoài rất đẹp đẽ và hứa ai vào đó rồi thì không trở ra khỏi được và sẽ giao cho y hành tội. Bảy ngày sau, Ngài cho giải tới một thanh niên và một thiếu nữ ở trong cung cấm bị bắt gặp nháy nhó với nhau. Tchandagorika bỏ chúng vào cối sắt rồi dùng chày đồng giã nát thây.
          Một vị Tỳ Kheo ở xứ xa đi tới, Ngài bước vào nhà này, vì  không biết nó dùng để làm gì? Khi thấy cực hình của hai thanh niên nam nữ thì động lòng từ bi, Ngài mới nói với Tả đao: Bần Tăng bằng lòng chịu để cho Ngài hành phạt. Nói rồi Ngài chấp tay tham thiền nhập định. Tchandagorika dùng tất cả những dụng cụ để tra tấn và sát hại, nhưng đối với vị này thì chúng nó vô hiệu quả, ông ngồi trơ trơ. Vua hay được tin này bèn tới xem tận mắt. Lúc đó vị Tỳ Kheo ngồi trong chảo dầu sôi sục, còn lòng chảo thì cháy đỏ. Ngài vẫn thản nhiên không hề hấn chút nào.
          Thấy đã đến lúc phải thuyết phục Vua, Ngài bèn bay lên không như một con hạc, phân nửa thân mình phun ra nước, phân nửa thân mình phun ra lửa. Ngài ở trên trời chiếu sáng như một cái núi trên chót có những ngọn suối tuôn ra những làn lửa đỏ.
          Vua A Dục thất kinh bèn hỏi: Bạch Ngài! Ngài là ai mà có những quyền năng phi thường đến thế?
          Vị Tỳ Kheo bèn đáp: Tâu Hoàng Thượng! Bần Tăng là một Phật tử và qui y với Đức Phật. Ngài là Đấng Từ Bi vô lượng. Ngài đã hoàn toàn tự chinh phục Ngài cho tới mức tuyệt đỉnh. Ngài đã chinh phục tôi, lòng tôi đã yên tịnh, tôi đã thoát ra ngoài kiếp sống hồng trần này.
          Còn về phần Hoàng Thượng, Đức Phật có nói trước về thân thế Hoàng Thượng như sau đây:
          “Một trăm năm sau khi ta nhập Niết Bàn, sẽ có một vị Minh quân ra đời và trị vì tại Patalipoutra. Ngài làm bá chủ thiên hạ. Ngài sẽ phân phát những Xá Lợi của Ta và ban hành 84 ngàn sắc lệnh (theo số Phật giáo) đặng tán dương Phật Pháp.[24] Nhưng bây giờ đây, Hoàng Thượng cho cất nhà này là hình ảnh của địa ngục và tại đây đã có cả ngàn người bỏ mạng rồi. Tâu Hoàng Thượng, dân chúng đã tha thiết khẩn cầu Ngài mở rộng lòng nhân thương xót số phận của họ, và ra lệnh phá huỷ ngục tù này họ mới sống được yên thân.”
          Vua A Dục vòng tay lại và nói: Bạch Đại Đức, tôi xin Ngài tha thứ những việc làm quấy quá của tôi. Tôi xin thú tội với Ngài và xin qui y Tam Bảo. Tôi sẽ cất trên đất Phật những Tháp, những Tịnh xá, chúng sẽ chói sáng như cánh con chim hạc, như mặt trăng rằm.
          Khi Vua muốn rời khỏi nhà này thì Tchandagorika chấp tay lại và nói: Tâu Hoàng Thượng! Ngài đã hứa với tôi: Ai vào nhà này thì không trở ra ngoài được. Vua A Dục hét lớn: Ngươi muốn giết ta nữa sao? Tchandagorika bèn nói: Đúng vậy! Vua mới hỏi: Trong hai chúng ta ai vào trước? Tchandagorika trả lời: Tôi vào trước. Vua bèn nói: Vậy thì ngươi phải chết trước. Nói rồi bèn sai kẻ tả hữu dẫn Tchandagorika ra pháp trường rồi ra lệnh phá tan ngục thất.
          Trên đây truyền thuyết về sự qui y của Vua A Dục theo Kinh sách Bắc Phạn Nê Bôn (Népal).
          Sau khi Ngài qui y rồi, Vua A Dục đuổi 60 ngàn người Bà La Môn ra khỏi Hoàng thành và cung phụng những vị Tỳ Kheo sốt sắng, chơn tu.
          Trong quyển Phật Giáo Đại Cương (Le Bouddhisme sous forme de Catéchisme) ông Henry S. Olcott nói rằng: Vị Tỳ Kheo cảm hoá được Vua A Dục là một vị La Hán (Arhat) tên Nigrodha Samanara, mười năm sau khi Vua A Dục lên ngôi báu.
          Riêng tôi, tôi tưởng không phải Đại Đức Nigrodha Samanara đi lạc vào ngục thất, mà chính là Ngài cố ý tới đó vì đã đúng ngày giờ phải vào chốn này mới thuyết phục Vua A Dục được.
NHỮNG SẮC LỆNH CỦA VUA A DỤC
          Những sắc lệnh của Vua A Dục ban hành đều có khắc chữ  trên những cột đá và những bia đá lớn khắp xứ Ấn Độ.
          Mấy chục năm trước người ta tìm được 22 sắc lệnh này, 14 khắc trên tảng đá và 8 khắc trên những cột đá, không biết tới ngày nay, các nhà khảo cổ còn gặp nhiều sắc lệnh khác nữa không. Bạn nào muốn hiểu nhiều xin đọc quyển Les Inscriptions d’Asoka của ông Jules Bloch và Chương II nói về “Những sắc lệnh của Vua A Dục.” “Les Édit d'Asoka” trong quyển L’Inde après Le Bouddha par Lamairesse, trang 47.
          Xin nói tóm tắt về nội dung của 3 sắc lệnh đầu tiên.
NỘI DUNG BA SẮC LỆNH ĐẦU TIÊN
*
SẮC LỆNH THỨ NHẤT
          Sắc lệnh thứ nhất: Cấm sát hại thú vật đặng ăn thịt hay là cúng tế.
          (Ngày nay Bà La Môn giáo và Phật giáo đều dạy như thế).
SẮC LỆNH THỨ NHÌ
          Sắc lệnh thứ nhì nói về công việc từ thiện của xã hội, phân phát thuốc men.
          “Ở khắp mọi nơi, trong nước của Vua Pyadassi, bạn thân của các hạng Thiên Thần, cũng như ở các sắc dân cư ngụ tại biên giới của nước Ngài, như những Codas Cola, Pandyas, Sadyapoutra, Keralaputra và cho tới Tambapani, thuộc về lãnh vực của Vua Hy Lạp Antiochus và những Vua ở kế cận trong Aryana (Bactriane), Soligane v.v. . . ., Vua Pyadassi đều phân phát hai thứ thuốc men: một thứ cho người, một thứ cho thú vật. Những thuốc men này do thảo mộc làm ra.”
SẮC LỆNH THỨ BA
          Sắc lệnh thứ ba ban hành ba năm sau khi Vua qui y, tức là 13 năm sau  khi tức vị nói về sự tuân hành luân lý Đạo Phật của dân chúng ở khắp nơi trong nước.
          Mỗi năm đều có những viên Thanh tra, ngoài những công việc đặc biệt, đều hội họp với Giáo hội đặng tuyên bố những lời dạy đạo đức sau đây:
          1 –  Rất tốt mà vâng lời, chiều lụy cha mẹ.
          2 –  Rất tốt mà rộng lượng với bằng hữu và bà con, thân quyến.
          3 –  Rất tốt mà bố thí cho những người Bà La Môn và những Sa Môn (Phật giáo).
          4 –  Rất tốt mà kính trọng sinh mạng của các loài vật.
          5 –  Rất tốt mà tránh sự vô độ lượng và những lời nói nặng nề, hung bạo.
          Tôi nói bao nhiêu đây cho quí bạn thấy rằng những sắc lệnh của Vua Asoka không thể gọi là Pháp môn được.
SỐ TÁM MƯƠI BỐN NGÀN SẮC LỆNH
ĐÁNG NGHI NGỜ
          Vua A Dục trị vì 37 năm từ 264 đến năm 227 trước Tây lịch kỷ nguyên (264-227 av. J.C.). Ông qui y sau mười năm lên ngôi báu. Thế thì trong vòng 27 năm, ông thảo ra tới 84 ngàn sắc lệnh.
          Tôi không tin ông có đủ thì giờ để làm việc đó, bởi vì còn không biết bao nhiêu chuyện phải thực hành trong việc trị nước, chăn dân.
          Hơn nữa, ông mới là một vị tân tín đồ. Hoạ chăng, ông nhờ những vị Trưởng Lão trong Giáo hội Tăng Già thảo ra rồi đem cho ông chuẩn y. Dù sao số 84 ngàn sắc lệnh cũng đáng nghi ngờ, không đúng với sự thật.
          Nếu mỗi người đặt ra 100 sắc lệnh thì phải dùng 840 người và chắc chắn trong 84 ngàn sắc lệnh phải có những sắc lệnh trùng với nhau.
AI DẠY TÁM MƯƠI BỐN NGÀN PHÁP MÔN?
          Nếu thật có 84 ngàn pháp môn thì xin hỏi:
          Pháp môn thứ nhất tên chi? đề cập đến cái chi? và ai dạy?
          Pháp môn thứ nhì, Pháp môn thứ ba v.v. . . .
          Hiện giờ có được bao nhiêu người biết rõ mấy điều đó? Hay chỉ nghe theo sách chứ không có cái chi để chứng minh cả.
          Cho rằng Phật dạy 84 ngàn Pháp môn thì càng vô lý.
          Bài thuyết pháp đầu tiên nói về Tứ Diệu Đề và Bát  Chánh Đạo. Gồm trong tám chữ:
    – Lánh dữ
    – Làm lành
    – Rửa lòng trong sạch.
          Từ xưa đến nay, Chư Phật đều dạy như thế.
          Bây giờ, thí dụ Phật dạy 84 ngàn Pháp môn. Ta hãy làm một bài toán xem mỗi ngày, Phật Ngài dạy mấy Pháp môn. Ta hãy lấy số 84 000 chia cho 45, vì Phật thuyết Pháp trong 45 năm thì ta biết mỗi năm Phật dạy mấy Pháp môn.
                                     84000:45=1866  pháp môn               
          Nếu mỗi năm Phật dạy 1866 Pháp môn, thì mỗi ngày Ngài dạy:
                                     1866:365=5   Pháp môn
          Nhưng nói cho đúng, tới mùa mưa kéo dài tới ba tháng, Phật và đệ tử nghỉ trong Tịnh xá thì phải chia số 1866 cho 275. Nhưng 5 Pháp môn hay 6 Pháp môn cũng không khác xa bao nhiêu.
          Ta thử nghĩ nội một Pháp môn: Rửa lòng trong sạch, nếu những người Cư sĩ như chúng ta hiện giờ mỗi kiếp đều có gia đình, thì e cho trong vòng  Bốn, Năm  chục kiếp  liên tiếp cũng chưa ắt chúng ta  thực hiện  được của 1/5 của mỗi tánh, bởi vì hết  9/10  ngày giờ của mỗi kiếp chúng  ta  đều  dành  để  lo cho gia đình, chỉ còn 1/10 lo cho đạo đức mà thôi. Nhưng còn sợ những quả của chúng ta đã gây ra không cho chúng ta được rảnh rang như ý muốn. Vậy thì nói chi mỗi ngày phải thi hành 5 Pháp môn. Toàn là chuyện không thể tin được.

          Phật bảo tín đồ không nên mê tín, nếu chúng ta nhắm mắt tin càn, thì lỗi tại chúng ta.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM

TẠI SAO BÀ LA MÔN CĂM THÙ PHẬT GIÁO?
          Xem Kinh sách Phật, ta thấy những đệ tử lớn của Đức Phật tài đức vẹn toàn và thần thông quảng đại.
          Tôi xin kể ba chuyện dưới đây:

I

NHẬN CHÂU NGỌC
          Dijotichka con của Soubhadra ở tại Vương Xá Thành  (Rajagriha) để một cái bát bằng bạch đàn có nhận châu ngọc trên chót vót một cây trụ dựng trước nhà với mấy hàng chữ: Vị Sa Môn nào không dùng thang, không dùng móc, mà chỉ dùng Thần thông lấy được cái bát này, tới xin Ta cái chi Ta cho cái nấy.
          Đức Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa) tới trước cây trụ chấp tay lại, tức thì cái bát rớt xuống. Ngài cầm nó đem về Tịnh xá. Dân chúng tới trước mặt Phật khen ngợi Phật có đệ tử pháp lực cao cường.
          Phật hay được việc này, bèn cầm gậy lại đạp nát bát bạch đàn và cấm đệ tử không được dùng Thần thông để khoe mình.
SINH VẬT TRONG NƯỚC
          Vì cái bầu lọc nước của Ngài còn thô sơ, Xá Lợi Phất (Saripoutra) nhìn vô nước của Ngài uống thấy có nhiều sinh vật. Ngài thà chịu khát chứ không chịu sát sinh. Đức Phật hay đặng mới nói với Xá Lợi Phất: Con trọng sinh mạng mà con lại sát hại sinh mạng. Từ đó Ngài cấm các đệ tử không được dùng thần nhãn xem nước uống, phải xem với con mắt thường mà thôi.
CHULLAPANTHAKA HÓA PHÉP PHÂN THÂN
          Một hôm nọ Phật sai một tín đồ tới Tịnh xá đòi Chullapanthaka tới cho Ngài dạy việc. Vị này tới Tịnh xá thấy 300 vị giống y như nhau, ai cũng  xưng mình là Chullapanthaka cả. Y không biết tính sao mới trờ về bạch với Phật điều đó. Phật mới bảo y nắm tay người thứ nhất xưng mình là Chullapanthaka rồi dẫn về, người đó mới thật là Chullapanthaka.
*
          Lúc đó người ta rất kính trọng Phật giáo, còn Đạo Bà La Môn thì bị lu mờ và mất uy tín trước thanh danh của Đức Phật và đệ tử của Ngài. Vì thế họ rất căm thù Phật giáo.
          Sau khi Phật và các vị đệ tử lớn từ trần rồi thì họ bắt đầu công kích Phật giáo một cách dữ dội. Họ đã thành công bởi vì lúc đó những vị lãnh tụ Phật giáo không đủ tài đức như các vị Tiền bối. Cho tới ngày nay câu chuyện “Đạo ố Đạo” vẫn còn hai nguyên nhân: Một là quyền lợi vật chất, Hai là danh vọng hão huyền. Người ta mến chức tước, địa vị, chứ không phải mến Đạo. 
TẠI SAO TRONG QUYỂN KINH PHẬT LÀ QUYỂN PHÁP CÚ DHAMMAPADA LẠI CÓ
MỘT CHƯƠNG NÓI VỀ NGƯỜI BÀ LA MÔN (BRAHMANE)
          Quyển Pháp Cú Dhammapada thuộc về Bộ Kinh Tạng. Tại sao Chương XXVI là Chương chót lại nói về “Người Bà La Môn.” Nếu hỏi tại sao như thế? Thì     chắc chắn không biết trả lời làm sao cho đúng với sự thật, bởi vì quyển Pháp Cú là quyển Kinh của Đạo Phật chứ không phải của Đạo Bà La Môn mà nói về người  Bà La Môn.
          Tới ngày nay không ai giải nổi lý do đó.
CHƯƠNG THỨ SÁU
VÌ LÝ DO NÀO PHẬT GIÁO BỊ TIÊU DIỆT MỘT CÁCH MAU LẸ?
          Đọc lịch sử Phật giáo Ấn ta thấy Phật giáo bị Đạo Bà La Môn tiêu diệt một cách mau lẹ.
          Thiết tưởng ta cũng nên tìm hiểu coi lý do nào mà Phật giáo suy đồi nên không chống lại nổi với những người Bà La Môn, và tới thế kỷ thứ XI người ta không còn thấy dấu vết Phật giáo trên đất Ấn Độ nữa.
          Có ba nguyên nhân làm cho Phật giáo mau tàn tạ:
          1 – Nguyên nhân thứ nhất: Vì lý do Huyền bí.
          Mỗi vị Bồ Tát sau khi thành Phật rồi chỉ xuống thế dạy Đạo một lần chót. Xong rồi Ngài về cõi khác không còn dính dấp với trần ai nữa. Thế nên trước khi lâm phàm lần cuối cùng, Đức Bồ Tát ngày nay gọi là Phật Thích Ca sắp đặt cách nào cho các vị Đệ Tử của Ngài mấy kiếp trước đi đầu thai một lượt với Ngài hoặc trước hay sau vài năm đặng khi Ngài ra thuyết pháp thì họ trở về với Ngài.
          Một mặt khác, nhờ từ điển của Ngài khi Ngài thành Phật và nhờ công phu luyện tập nhiều kiếp trước cho nên nhiều vị đệ tử của Ngài đắc quả La Hán như       Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa), Mục Kiền Liên, Kiều Trần Như, Ananda, Xá Lợi Phất. Chullapanthaka v.v. . . . Đức Phật có 80 vị đệ tử Thần thông rộng lớn, đứng đầu là Mục Kiền Liên. Lúc này Đạo Bà La Môn phải lu mờ trước Phật giáo.
          Sau khi Phật nhập Niết Bàn, các vị đệ tử lớn nhỏ cũng lần lượt bỏ xác phàm.
          Mặt trời đã chen lặn và các ngọn đèn pha đã tắt hết rồi thì cảnh vật chìm đắm trong đen tối, con người phải lần mò mà đi.
          Các nhà Huyền bí học uyên thâm đều biết rằng khi Đức Phật ra đời thì nhiều vị khác cũng lâm phàm đặng sửa sang mối Đạo như Đức Shri Shankaracharya, Đức Mahavira ở Ấn, Đức Mithra ở Ba Tư, Đức Lão Tử và Đức Khổng Tử ở Trung Hoa và Đức Pythagore ở Ai Cập.
          Đức Shri Shankaracharya là một vị Độc Giác Phật, đệ tử Đức Ngọc Đế. Ngài vâng lệnh Đấng Chí Tôn giáng phàm, cải cách Ấn giáo và phục hồi sinh khí cho Đạo này. Nhờ Ngài mà hầu hết dân chúng Ấn bỏ tục lệ giết thú vật đặng cúng tế. Năm 33 tuổi Ngài vô núi rồi biệt tích luôn.
          Trong quyển Ấn Độ Huyền Bí (L’Inde secrète) Huynh Nguyễn hữu  Kiệt dịch ra đề tên là Đông Phương Huyền Bí, ông Paul Brunton có thuật chuyện gặp Đức Shri Shankara-Acharya de Kumbakonam (thường viết là Shankaracharya) Giáo Chủ miền Nam Ấn Độ. Ngài thuộc về dòng Tu sĩ Shankaracharya. Mỗi vị Giáo Chủ đều lấy tên Shankaracharya từ xưa đến nay. 
         
          2 – Nguyên nhân thứ nhì: Sự chia rẽ trong các Tôn giáo.
          Nguyên nhân thứ nhì là sự chia rẽ trong các Giáo phái. Vì những chỗ bất đồng ý kiến các giáo phái không hoà hợp với nhau. Mỗi chùa là một giang sơn riêng biệt. Vì vậy các giáo phái phải bị cô lập và yếu thế. Trước sự tấn công mãnh liệt, liên tiếp và có phương pháp của Đạo Bà La Môn, mỗi giáo phái phải tự vệ, nhưng không chống ngăn nổi. Giáo phái này bị hạ rồi tới giáo phái khác.
          Đây là gương sáng cho đoàn hậu tấn soi chung. “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.” Lời xưa nói  không lầm.
          3 – Nguyên nhân thứ ba: Giàu sang và danh vọng.
          Ở cõi trần, nguyên nhân thứ ba rất quan trọng: ấy là giàu sang và danh vọng.
          Chướng ngại này hết sức lớn lao mà tất cả các Tôn giáo từ xưa đến nay đều mắc phải và nếu không khéo giữ gìn thì phải bị sụp đổ. Ấy là sự quá ư sung sướng về vật chất làm mất tinh thần sùng bái đạo đức và tăng cường sức mạnh của tánh ích kỷ, tham lam, kiêu căng, tự phụ của tín đồ.
          Họ không giữ gìn giới cấm hay giữ cho có lệ chứ không phải dọn mình cho trong sạch đặng thọ lãnh Chơn truyền. Vì vậy, cho nên rất ít người được thâu nhận làm đệ tử chánh thức của Chơn Sư. Người ta nói rằng cửa Đạo đóng chặt, từ thế kỷ này qua thế kỷ nọ, để chờ những người có thiện căn, những người có đủ những đức tánh cần thiết tới gõ cửa, tới chừng đó cửa Đạo sẽ mở ra đặng rước vào.
          Xin chép ra đây một đoạn trong quyển Đạo Phật trên Thế Gian (Le Bouddhisme dans le Monde), trang 216, tác giả là ông L. de Milloné nghiệm xét về sự suy đồi của Phật giáo.
          “Đại để người ta nghĩ rằng Đạo Phật chết mòn vì sự giàu sang của chùa chiền làm cho suy nhược, sụp đổ, bởi vì Giáo Hội Tăng Già mất hết khí phách, nghị lực, bị bỏ rơi bởi vì tín đồ say mê tôn thờ Đấng Krishna là Đức Thượng  Đế hóa thân làm người được phổ biến khắp dân chúng, vốn của người Bà La Môn bịa đặt hoặc giả đề xướng để đối phó với Đức Phật là con người thành Thượng Đế.”
          Những lời xét đoán này có đúng hay không? Quí bạn suy nghĩ xem.
          Người học Đạo và hành Đạo không bênh vực ai và cũng không xét đoán ai cả, biết rằng trên đường tu hành sẽ gặp những cảnh ngộ éo le, khắc nghiệt, mấy ai dám tự phụ rằng mình sẽ đứng vững trên những sự thử thách mà không sa ngã. Tốt hơn cứ làm thinh mà đi tới. Cười người tháng trước tháng sau người cười. Nhân Quả không hề dung tha một ai làm sai Luật Trời.
          Những xe trước gãy, xe sau phải tránh. Ta thấy cái gương người xưa rồi thì phải thận trọng, dè dặt từ chút, đâu dám buông lung và phải luyện ý chí cho cứng cỏi. Sắt không đem nung lửa đỏ, không đem trui nhiều bận thì không bao giờ trở nên thép cứng rắn để dùng vào việc hữu ích cho đời.
          Mà cũng đừng quên rằng đời là một cái trường học lớn, ai ham học và biết học thì sẽ tiến mau, nhược bằng lười biếng không cố gắng thì sẽ phải rớt lại sau xa lắm, trong khi các bạn đồng hành đã vượt cả ngàn cây số rồi.
          Luật Nhân quả vốn bất di bất dịch. Nó không hề thiên vị một ai, dù người đó là một vị Đại Thiên Thần chăng nữa chứ nói chi là những người phàm phu tục tử như chúng ta đây.
HẾT

            [1] Châu Lémurie là Châu thứ ba, Châu Atlantide là châu thứ tư. Hai châu này ngày nay đã trầm xuống biển. Ngày sau sẽ nổi lên lại.
            [2] Năm 1929-1930 tôi đã cho xuất bản quyển nhỏ: Phật Giáo Yếu Lý và kế đó là quyển Luân Lý Đạo Phật.
            [3] Chuyện anh Soubhada có thuật trong quyển Đức Phật  Gotama (Cồ Đàm), đời sống của Ngài, nơi trang 235, tác giả là Ông E. H. Brewster – Gotama, Le Bouddha.  Sa vie.
            [4] GotamaLe Bouddha. Sa vie (D’Après les écritures palies choisies par E. H. Brewster, avec une préface de C. A. P. Rhys Davids).
            [5] Xin xem Phần Nhì: Con đường Nhập Môn của Phật giáo và Bốn bậc  đệ tử.
            [6] Quí bạn muốn biết thêm chi tiết về hai cuộc lễ Vía Phật và Chuyển Pháp Luân (Asala), xin đọc Chương XIV: La Sagesse dans Les Triangles, của quyển Les Maitres et  Le Sentier, hoặc Chương XIV Minh Triết Trong Tam Giác của quyển nhì Chơn Sư và Thánh Đạo.
            [7] Xin xem bài: Phải suy nghĩ cho sâu xa khi đọc Kinh Phật, trong quyển Đâu Là Chân Lý. Và hai quyển Vô Minh và Giác Ngộ thì rành rẽ hơn.
            [8] Genèse 1-3.

            [9] Chuyện này của ông Tautriadetta, một nhà pháp môn qua Thiên Trước khảo cứu những diệu pháp của mấy vị Đạo sĩ Pha-kia (Fakir) rồi sau khi trở về viết bài tường thuật. Ông G. Tamos dịch ra đăng vào Tạp chí Le voile d’Isis. Bạn tôi là Bạch Ngọc có dịch lại và đăng vào Niết Bàn Tạp Chí số 38 ngày 1-6-1935. Ông Tautriadette có qua Phi Châu khảo cứu những phù pháp của các Đạo sĩ bên đó nữa.
            [10] Samyak Virya; Virya có nghĩa là nghị lực vượt qua các chướng ngại.
            [11] Rất tiếc là chúng tôi quên tên Chùa đó, vì là tiếng Nhật và đã 42 năm rồi.
            Xin đọc Ba chuyện Đại Định trong bài: "Vài lời về Thiền Ấn Độ và Trung Hoa" trong quyển Vô Minh và Giác Ngộ của Phật giáo.
            [12] Nếu không phải là quả kiếp trước mà tại người ta gây ra kiếp này thì tội nghiệp cho họ. Sau họ phải trả quả. Không phải mọi việc xảy đến đều do quả của kiếp trước.
            [13] Phật giáo Công truyền không nói tới bậc thứ năm.
            [14] Tôi không nói đến “Lão Tử” sợ có người hiểu lầm.
            [15] Nếu tôi nhớ không lầm.
            [16] Ông Léon Wieger viết bài tựa của quyển nhì tại Ho-Kiên-Fon ngày 11 tháng 4 năm 1910 (11 Avril 1910).
            [17] Có chỗ đề: Fameux jardin de Dévaton appelé Parc des Cerfs.
            [18] Về điều này tôi xin nói: Đây là một việc Đại bất công. Không sát hại sinh vật mà xử tử những người Thủ đà la khi họ phạm đại tội. Tại sao tha thứ những người Sát đế lỵ, những người Tỷ xá. Trong khi họ đồng phạm một tội như những người Thủ đà la? Chẳng qua là tại dân bổn xứ coi người Thủ đà la như một con quái vật rất gớm ghiếc, ai thấy cũng tránh xa.
            Nếu các hàng Phật tử giữ đúng như lời Phật dạy thì không ai dám làm điều này cả, vì nó trái nghịch với Lòng Từ Bi vô lượng của Đức Phật.
            Tưởng cũng nên biết, Chandragupta, vị Hoàng Đế đánh đuổi quân Hy Lạp ra khỏi Ấn Độ vốn thuộc về dòng dõi của người Thủ đà la chứ không phải là người Sát đế lỵ.
            [19] Touranien: Nhánh thứ tư của giống dân Atlantes. Atlantes là giống dân chánh thứ tư (Touranien 4e sous race de  la 4è race mère Atlantes).
            [20] Một lí khoảng 300 thước bề dài.
            [21] Thời Vua A Dục, cây Bồ Đề đã bị Hoàng Hậu ra lệnh chặt đứt một lần rồi.
            [22] 1– Brahma là Ngôi thứ Nhất của Thượng Đế. 2 – Vishnou là Ngôi thứ Nhì. 3 – Shiva là Ngôi thứ Ba. Shiva-Vishnou-Brahma là Ba Ngôi của Thượng Đế. 4 – Parvati: Nữ Thần vợ của Shiva, có lẽ Tàu gọi là Diêu Trì Kim Mẫu. 5 – Ganésa: Thiên Thần đầu voi, con của Shiva và Parvati. Tôi xin nói vài lời về Parvati. Các hạng Thiên Thần không có Nam không có Nữ, không có sự giao hợp như con người. Không có Nữ Thần gọi là Parvati. Nên biết Thiên Thần có hai trạng thái: Trạng thái Dương và trạng thái Âm. Không có trạng thái Âm, Thiên Thần không thể hoạt động được. Người ta gọi trạng thái Âm là Nữ Thần Dévi, chứ sự thật không có Thần Nữ. Mà ai muốn tin  sao thì tin.
            [23] Có chỗ nói Nan Đà là cô gái chăn bò, không phải trên bờ sông Hằng Hà (Gange) mà trên bờ sông Ni Liên Thuyền (Nairânjana).
            [24] Nguyên văn chữ Pháp: Et toi! O grand Roi! ta venue a été prédite par Bhagavat. C’est de toi qu’il a dit: Cent ans après que je serai entré dans le Nirvana complet, règnera à Patalipoutra un roi juste, souverain des quatre parties de la terre, qui fera la distribution de mes reliques et qui établira 84 000 (nombre Bouddhique) édits de la loi. (L’Inde après le Bouddha par Lamairesse page 44).


Share:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu trữ Blog

Translate