Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

🌿 LÒNG NGƯỜI...

 


“Tôi đã mở to mắt, nhưng vẫn không nhìn thấu được lòng người.”

Trước kia, mỗi khi có người nói câu này, tôi thường cho rằng họ đang làm quá, đang nghiêm trọng hóa vấn đề. Cuộc đời nói dài thì dài thật, nhưng nói ngắn thì cũng ngắn lắm. Yêu thương nhau còn không đủ, sao cứ phải lãng phí thời gian, cứ phải giam đời mình vào những dối trá, lọc lừa vô nghĩa?

Lớn lên, tôi mới nhận ra, thì ra cuộc đời chỉ có một nửa là niềm vui, nửa còn lại từ lâu đã chất đầy nỗi buồn và toan tính: Tôi lựa chọn sống hồn nhiên, người ta lại tìm cách trèo lên đầu lên cổ. Tôi càng nhường nhịn cho qua, người ta lại càng được đà lấn tới. Tôi khao khát đặt niềm tin vào cuộc đời, người ta lại đánh đồng tôi với sự ngu dốt và hèn nhát.

Từ bó rau mấy chục ngàn đến những công trình mấy chục ngàn tỉ, ai ai cũng tìm cách thu lượm thật nhiều để làm lợi cho mình. Từ một nụ cười hời hợt xã giao đến những lời ngọt ngào có chủ đích, những việc thoạt nhìn làm vì người khác, hóa ra lại làm vì chính họ...

Không thể rạch ròi như ngày và đêm, đen và trắng, giữa người với người luôn luôn tồn tại một khoảng “xám”, nơi mà mọi đúng sai thị phi chỉ mang tính tương đối, bị chi phối bởi sức mạnh. Cái gì thuộc về bản chất thì không ai thay đổi được.

Trước đây, tôi từng hâm mộ những người dám từ bỏ tất cả để có một cuộc sống tự do, không khuôn khổ ràng buộc, bình tĩnh đi qua mọi cảnh sắc thế gian. Bây giờ, tôi lại càng hâm mộ những người dám quên mình vì người khác, dũng cảm thành thật, không ngại gian nan, va chạm, đương đầu...

Cố gắng gieo hạt giống thiện lành vào đời sống, đương nhiên tốt. Nhưng nếu chưa từng tìm cách thay đổi, đấu tranh với những xấu xí bất công. Vậy khác nào trồng hoa trên một vũng bùn lầy, tôi tự hỏi có ích lợi gì không?

Càng lớn, càng hoài niệm những ngày được ngồi trong lớp học. Mùa hè dài đằng đẵng, có đàn chim ríu rít sải cánh bay. Ánh mặt trời nghiêng nghiêng động đậy, soi sáng từng gương mặt sạch sẽ thơ ngây. Ban mai đầy ắp tiếng cười, ráng chiều ngỡ như mộng ảo. Không có toan tính, không phải tranh đấu, không cần giả bộ.

Càng không nghĩ có ngày phải thốt lên:

“Tôi đã mở to mắt, nhưng vẫn không nhìn thấu được lòng người.”

-----
🌿 Trích: Mình phải sống như biển rộng sông dài

Share:

Bậc Thánh nhân hiểu Mệnh, biết Thời, Không sợ hãi

 Trang Tử từng nói: “Biết rằng cảnh khốn cùng là do số mệnh, biết rằng cảnh thông thuận là do thời thế, lâm đại nạn mà không sợ hãi, đó là cái dũng của bậc thánh nhân.” Bậc thánh nhân có nội tâm mạnh mẽ, thấu hiểu thiên mệnh, từ đó nuôi dưỡng sự nhẫn nại, sẵn lòng chờ đợi thời cơ, cảnh giới tu dưỡng của họ đã đạt tới trạng thái điềm nhiên tĩnh lặng như nước.

Suy cho cùng, sự mạnh mẽ của nội tâm chính là dám đối mặt với hiện thực, có thể dốc sức hành sự, nhưng vì hiểu thiên mệnh nên biết tiết chế bản thân. “Luận Ngữ” có câu: “Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã”, người không biết thiên mệnh chẳng thể được coi là bậc quân tử. Đạo gia và Nho gia không hẹn mà gặp, coi thiên mệnh là điều tối cao. Khổng Tử nói, đến năm mươi tuổi thì biết mệnh Trời. Sau nửa đời người nếm trải đủ những đắng cay, ông mới biết rằng có những điều mình có thể làm được, có những điều mình không thể làm được, mới biết có những điều cao cả bao la và phổ quát mà con người không thể với tới.

“Trung Dung” viết: “Quân tử thuộc dị dĩ sĩ mệnh, tiểu nhân hành hiểm dĩ nghiêu hãnh”, bậc quân tử có thể thành tựu đại sự, đa phần đều an phận với địa vị bình dị trong cuộc sống, chờ đợi thiên mệnh, còn kẻ tiểu nhân lại mạo hiểm, vọng tưởng truy cầu những lợi ích không thuộc về mình, cuối cùng trắng tay.

Khi đối diện với khó khăn, sở dĩ con người vẫn cảm thấy sợ hãi chủ yếu là vì vẫn còn mong cầu và sợ mất mát. Bậc thánh nhân thấu hiểu nhân sinh biết “tận nhân sự thính thiên mệnh”, dốc sức hành sự, vâng theo mệnh trời. Dẫu nỗ lực nhưng không truy cầu kết quả, dẫu làm việc quên mình nhưng sớm đã coi nhẹ vinh nhục, bởi vì đã ngộ được chỗ huyền diệu của thời thế.

Cổ nhân tổng kết thành hay bại được quyết định bởi ba yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Trong đó thiên thời luôn chiếm vị trí hàng đầu. Người có nội tâm mạnh mẽ có thể nhẫn chịu nỗi cô đơn, cái khổ sở, mà mở ra tương lai sáng lạn cho bản thân.

Thời vận vị lai quân hưu tiếu,

Thái Công dã tác điếu ngư nhân.

Tạm dịch:

Thời vận chưa tới vua nhàn rỗi,

Thái Công cũng như vị ngư ông.

Khương Tử Nha (Khương Thái Công) bao nhiêu năm trời sống trong cơ cực, từng đi ở rể tại nhà vợ, nhưng vì không giỏi mưu sinh nên thậm chí bị nhà vợ đuổi đi. Ông phải bán thịt, bán rượu, bán bột mỳ kiếm sống. Nhưng cho dù là buôn bán làm ăn hay xem bói tạm kiếm cơm qua ngày, ông đều chịu khó một lòng học tập thiên văn địa lý, quân sư mưu lược, nghiên cứu con đường “trị quốc an bang”, chờ thời cơ để thực hiện chí lớn. Đến khi già rồi ông ngồi câu cá ở bên sông Vị, cuối cùng được Chu Văn Vương tới đón về. Khương Tử Nha đã giúp nhà Chu diệt Trụ, lại giúp mở mang bờ cõi, khai sáng một thời kỳ thịnh thế.

Trong quá trình chờ đợi thiên mệnh đằng đẵng ấy, có bao nhiêu người mất đi sự kiên trì trong nội tâm mà lo tính chuyện được mất, hơn thua? “Luận Ngữ” có một câu nói nổi tiếng rằng: “Tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã”, nghĩa là khi trời trở lạnh, mới biết cây Tùng cây Bách rụng lá sau cùng. Thường vào những tháng năm gian nan nhất, có thể nhẫn nại vượt qua mới biết ai là bậc trí tuệ, ai là bậc dũng giả, ai có nội tâm kiên cường mạnh mẽ.

Phạm Trọng Yêm là người nổi tiếng với câu nói: “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, yêu nước thương dân, nhưng năm đó ông cũng để lại một câu danh ngôn truyền đời: “Bất dĩ vật hỷ, bất dĩ kỷ bi”, bậc trí giả được không cao hứng, mất không sầu bi. Khi viết câu nói ấy, ông bị giáng chức đày đi xa. Nhưng trong tám chữ ngắn ngủi này lại không có nỗi niềm chua xót trong cơn nguy khó, chỉ có một nội tâm mạnh mẽ không thể khuất phục.

Bậc chí sỹ trong các thời đại lịch sử, những người được tôn xưng là có nội tâm khoáng đạt, tấm lòng quảng đại, ai nấy đều mang theo tâm thái điềm nhiên, tiêu diêu, thoát tục. Từ Trang Tử, Bách Lý Hề thời Xuân Thu Chiến Quốc cho tới Đào Tiềm thời Nguỵ Tấn, rồi Tô Thức, Bạch Cư Dị thời Đường Tống, cuộc đời của họ ít nhiều đều phải trải qua những giai đoạn mây đen rợp trời, nhưng nội tâm mạnh mẽ của họ, tâm thái không thành công cũng thành nhân của họ, đã thắp sáng ngọn nến nhân sinh của họ một cách siêu thường.

Con người sống trên đời, chẳng thể mong cầu vạn sự như ý, chẳng thể muốn được đường đời phẳng lặng. Khi đứng giữa chông gai, khi sức cùng lực kiệt, thì hãy nhớ câu: “Biết rằng cảnh khốn cùng là do số mệnh, biết rằng cảnh thông thuận là do thời thế, lâm đại nạn mà không sợ hãi, đó là cái dũng của bậc thánh nhân.”

(st)


Share:

Chúng ta có cần phải Có những cái Người khác có?

 Cuộc sống có những khi bị bao trùm bởi quá nhiều ham muốn, để rồi mỗi ngày trôi qua đều rất tẻ nhạt. Một đời hoài phí, có đáng không?

Chúng ta có cần phải có những cái người khác có?

Thời còn bé xíu, chúng ta từng ăn vạ mỗi khi không dành được đồ chơi từ anh chị em trong nhà. Lớn hơn một chút, đến tuổi đi học, mỗi khi thấy bạn cùng trang lứa có bộ quần áo mới diện tới lớp, chúng ta vui mừng khi thấy ai cũng phải thầm ghen tị.

Đến tuổi đi làm, sẽ có lúc chúng ta muốn thứ người khác có, cuộc sống của mình luôn đủ đầy. Cuộc sống có những khi bị bao trùm bởi quá nhiều ham muốn, để rồi mỗi ngày trôi qua đều rất tẻ nhạt. Một đời hoài phí, có đáng không?

Nỗi lo sợ mất, ngày ngày buồn tủi

Đời mỗi người, ai cũng có nỗi sợ mất mát. Nỗi lo sợ của đứa trẻ mới bước vào đời, của người thanh niên về tương lai, của người già về danh tiếng đã trôi qua. Tất cả đều khiến mỗi người trong chúng ta mệt mỏi, buồn phiền.

Thường khi, điều làm ta lo sợ chính là điều chưa xảy ra. Con người hay sợ tương lai hơn là điều đã xảy ra với mình.

Nếu chúng ta cứ thường trực nỗi sợ mơ hồ về tương lai, cuộc sống hiện tại này có còn vui tươi, ý nghĩa hay không? Chắc chắn là không. Nhưng nỗi sợ là tiếng chuông đánh thức ta thức tỉnh khỏi những ràng buộc đời thường. Càng nói về nỗi sợ, nỗi sợ ấy sẽ tan biến. Chúng ta không có lí do gì để bị nó kiểm soát cả.

Hãy nói với mình: Đã đến lúc chấm dứt nỗi sợ mơ hồ đó!

So sánh với người, bao giờ mới hết

Có một sự thật hiển nhiên là, càng so sánh với những người khác, chúng ta càng đánh mất mình. Mỗi người chúng ta là một cá thể độc lập, không ai giống ai. Có những người luôn đem chính mình so sánh với người khác, từ thành tựu cho đến ngoại hình

Họ cho rằng mọi người xung quanh, hay thậm chí cả thế giới này có cuộc sống hạnh phúc hơn mình. Họ không biết rằng, so sánh chỉ khiến mình ngày càng khổ sở hơn mà thôi

Một triết gia từng nói: Mỗi người sinh ra ở hoàn cảnh khác nhau, có tài năng riêng. Điều cần làm là tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. Điểm mạnh thì nhân lên, điểm yếu thì tìm cách khắc phục. Làm được điều đó, bạn sẽ luôn tự tin là chính mình, ngay giữa cuộc đời vội vã này

Đối với nhiều người, đố kị với sự giàu có của người khác luôn khiến họ họ cảm thấy bất an. Điều này có thể bắt nguồn từ cách họ được cha mẹ nuôi dưỡng từ bé. Tuy nhiên, bất kì ai cũng có thể chọn con đường riêng của mình. Bạn có thể khẳng định bản thân, bằng chính khả năng của mình. Đã đến lúc ngừng so sánh bản thân với người khác, bắt đầu cải thiện chính mình!

Hãy tập trung vào những gì đang có, nỗ lực cho nó để đạt thành công. Bởi bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm cho việc đánh mất bản thân và tìm lại chính mình. Đừng quá chú trọng vào điểm yếu của mình. Hãy sống với phần tốt đẹp trong mình, đừng bao bọc bằng một lớp áo giả tạo, hay đi sao chép người khác.

Hãy sống với những gì mình có, tự tin đón nhận điều mình yêu thích. Bạn sẽ luôn cuốn hút người khác bằng chính những ưu điểm của mình. Và hơn hết, mọi người sẽ tôn trọng bạn hơn khi bạn “dám” tự tin, giữa cuộc đời này

Sống với đam mê, sống đời có ích

Bạn ạ! Cuộc sống luôn ban tặng ngày mai, để làm lại những điều đã sai ở quá khứ. Quan trọng là bạn không chịu ngã gục trước lỗi lầm đã qua.

Nhiều người lăn lộn trong đời, bị ham muốn dẫn lối, mất đi sự tỉnh táo. Khi đi làm, lại nhiễm phải thói tranh đoạt, đấu đá nơi công sở. Một đời hoài phí, có đáng buồn không?

Cho tới một ngày, khi mệt mỏi, đôi chân tưởng chừng sắp ngã quỵ, có lẽ bạn sẽ nhận ra, những gì mình theo đuổi thật ra rất vô nghĩa. Đã đến lúc bạn cần nhìn lại bản thân và đầu tư thời gian vào những gì có-nghĩa. Cuộc đời thật sự có ý nghĩa khi sống cho lí tưởng và đam mê. Đó là cuộc sống có ích cho chính bạn, người thân và cả cộng đồng.

Giữa lúc khó khăn nhất, học là cách cứu vớt linh hồn

Khi con người đứng trong ranh giới giữa việc tiếp tục đánh mất bản thân hay tìm thấy chính mình, hãy học hỏi kinh nghiệm người đi trước và đọc sách. Đó là việc làm sáng suốt. Nó giúp chúng ta định hướng lại tư duy, cách nhìn nhận mọi việc.

Đừng để bản thân mất thời gian chìm đắm vào những cảm xúc nhất thời. Hãy luôn hướng về phía trước, trau dồi bản thân, học kỹ năng nào đó để cứu chính mình. Thời gian đời người không dài, phải biết trân trọng, thế mới đứng vững chãi giữa đời được .

Biết lan tỏa giá trị, vững mạnh giữa đời bề bộn

Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày một vô cảm, tình cảm chân thành ngày càng trở nên xa xỉ, thế thì việc lan tỏa giá trị tới cộng đồng càng trở nên quan trọng

Giữa cuộc đời này, những người biết yêu thương, chia sẻ chân thành, giúp đỡ vô tư sẽ hạnh phúc

Thẳm sâu nhất trong mỗi con người là mong muốn được chia sẻ, tìm thấy người dẫn đường, tìm thấy người đồng hành đáng tin cậy. Hãy đi tìm những người ấy và cộng đồng của mình để sống tốt mỗi ngày. Ở gần những người bạn tốt, bạn sẽ tích cực hơn. Ở gần những người vui vẻ, bạn sẽ chẳng bao giờ buồn bã. Ở gần những người sáng suốt, bạn sẽ tránh được những mê mờ. Cuộc đời có ý nghĩa gì, nếu ta mãi sống vô ích đây?

Khi bạn đạt đến thành tựu nhất định, hãy bắt đầu lan tỏa giá trị. Mỗi lần lan tỏa giá trị là bạn đã giúp được một người nhận thức lại hành động, kiểm soát bản thân. Thế là đủ để sống vui vẻ, lạc quan, có nghĩa rồi!

Hãy nhớ, khi bạn lan tỏa lý tưởng, giá trị sống của bạn tới mọi người xung quanh, sẽ có rất nhiều điều kì diệu đến với bạn

Đứng dậy, mỉm cười và bắt đầu đi, những gì tốt đẹp nhất đang chờ bạn ở phía trước rồi.

(st)

Share:

Nhận diện những Hiện tượng Phản Văn hóa trong Xã hội Việt Nam

 Văn hóa là giá trị của mỗi người, thước đo trình độ phát triển của xã hội, cốt lõi của văn minh, nguồn giao cảm giữa các dân tộc. Văn hóa nằm sâu trong tất cả mọi quan hệ: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, lao động, gia đình và phẩm cách của con người. Người ta không những cần ấn no, ăn đủ mà còn cần ăn ngon, ăn có văn hóa.

Nhận diện những hiện tượng phản văn hóa trong xã hội Việt Nam

K. Marx đã từng nói rằng ăn ngốn ngấu bằng tay bốc vò xé thịt sống, khác với ăn có nấu nướng bằng đĩa, dao và bát đĩa. Lênin cũng phân biệt hai loại tình yêu, một loại gần với kiểu ăn uống thô tục và một loại có văn hóa. Người thường khuyên thanh niên, hay làm cho tình yêu trở thành có văn hóa. Ở đâu thiếu văn hoá thì cái lạc hậu, cái xấu, cái giả, cái sai, cái ác sẽ lấn át.

Trong thế giới hiện nay nhiều nước phát triển đã bước vào kỷ nguyên của văn hóa. Do quá trình vận động toàn diện của các quan hệ nhân tính, người ta nhận thức một cách sâu rộng rằng văn hóa là một trong những nguồn gốc cơ bản để phát triển tài nguyên, con người. Tuy nhiên để làm cho văn hóa trở thành cội nguồn của mọi phát triển xã hội, ở các nước phát triển hiện nay đang phát triển thành nhiều hoạt động chống lại những hiện tượng phản văn hóa. Việc làm ô nhiễm môi trường, nạn nghiện ngập ma túy, tệ bắt cóc con tin, thái độ tàn bạo giữa con người và con người, nạn gái điếm và trăm ngàn con bệnh xã hội khác là các mục tiêu của những chiến dịch khắc phục phản văn hóa, mở đường cho xã hội tiến về phía văn minh và hạnh phúc.

Ở nước ta, nhiều năm gần đây cùng với sự xuất hiện các giá trị văn hóa mới, những hiện tượng phản văn hóa ngày một gia tăng.

Trong lao động, tệ làm giả, làm ầu đang là vấn đề nhức nhối chưa có phương cách hữu hiệu để ngăn chặn. Trong giao tiếp xã hội, ngoài những quan hệ trong sáng, tình nghĩa, hiện nay không ít các hiện tượng tàn bạo, tham nhũng, tham ô, cửa quyền, vô đạo đức làm vẩn đục tình người và đại nghĩa dân tộc. Những hiện tượng phản văn hóa này xâm nhập gì vào trong gia đình, phá vỡ nhiều chuẩn mực thiêng liêng mà cả ngàn năm mới xây dựng được nên nó. Các quan hệ anh em, cha mẹ, vợ chồng đang bị các phản văn hóa bôi đen và đe dọa phá vỡ sự ổn định có ý nghĩa nhân bản.

Nhận định và đấu tranh với các phản văn hóa không phải một việc đơn giản. Có những phản văn hoá lại nhân danh văn hóa, nhân danh chủ nghĩa nhân đạo tồn tại như những mẫu mực sống của một cộng đồng người nhất định. Ai cũng biết rằng tự do, trong ý nghĩa tuyệt đối của nó là văn hóa. Nhưng đã là tự do của sự trưởng thành, tự do của những con người gắn bó với tự do của đồng loại. Tự do chỉ giành cho mình, làm mất tự do của đồng loại, đó là một hiện tượng phản văn hóa. Cũng như vậy, tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ giao tiếp bao giờ cũng là phẩm cách văn hóa. Nhưng nếu hạ nhục quan hệ này bằng sự khúm núm, vì lợi ích nhỏ nhoi thì lại trở thành phản văn hóa. Trên một ý nghĩa rộng thì tình thương yêu con người bao giờ cũng là bản chất của văn hoá. Tuy nhiên, nếu tình thương yêu ấy không cổ võ tính tích cực trong con người mà ngược lại nó bao che cho tính lười nhác, độc ác thì tình thương ấy không trọn vẹn và vẫn pha yếu tố phản văn hóa.

Nhận diện các phản văn hoá không chỉ bằng tâm lý thường ngày có thể phát hiện được bản chất của nó. Để khắc phục được các phản văn hóa cần phải nâng nhận thức tới tầm lý trí, hòa nhập vào tư duy khoa học đạt tới sự trưởng thành của ý thức. Các phản văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống và dưới rất nhiều diện mạo khác nhau. Biểu trưng đầu tiên của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về phía cái sai, nhân danh cái sai, ủng hộ, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, hù dọa cái đúng.

Sai – Đúng là một cặp phạm trù phân ranh giữa phản văn hoá và có văn hoá. Tuy nhiên thế nào là đúng, thế nào là sai lại không dễ chút nào. Đã có thời kỳ người ta cho rằng phản văn hóa vô sản ở Nga là đúng và Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc là không sai. Sau các cơn lốc lớn của lịch sử thì thái độ hư vô đối với truyền thống và sự coi trí thức, con người chi là công cụ, là phương tiện bị liệt vào các hiện tượng phản văn hoá. Ở nước ta, có một thời kỳ rất dài người ta cho rằng bao cấp là một hiện tượng nhân đạo và có văn hóa. Thế rồi, từ bao cấp, trong xã hội đã xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng phản văn hóa. Nạn quan liêu, tệ của quyền, sự lười nhác, các khát vọng và nguồn lực bị thủ tiêu đều thấy nguyên nhân từ bao cấp.

Trong xã hội, chúng ta dễ tìm thấy những hiện tượng lúc này thì đúng, lúc khác thì sai: thời điểm này là có văn hoá những thời điểm khác lại phản văn hóa. Ở trình độ dân trí còn thấp đã tuyên truyền, giáo dục đôi khi mang tính dậy bảo có thể vẫn được coi là có văn hóa. Song ở trình độ dân trí đã phát triển người ta không thể tuyên truyền giáo dục một cách đơn giản. Mọi sự đơn giản nhiều khi lại trở thành phản văn hóa.

Phép biến chứng của cái đúng và cái sai, cái văn hóa và cái phản văn hóa không thể do ý muốn chủ quan mà nó dựa trên cơ sở khoa học. Khoa học cùng tuyến với cái đúng và đúng về phía văn hóa, phản khoa học là cùng tuyến với cái sai cũng là hiện tượng phản văn hóa. Đúng sai là dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời là nền tảng vĩnh cửu của chân lý. Nó mang cả ý nghĩa nhân văn lẫn chủ nghĩa nhân đạo và đạt tới tầm nhân loại. Khoa học là của chúng, là chân lý cho mọi người. ọi sự vận động của lịch cử, như qúa trình lao động, giao tiếp dựa trên cơ sở khoa học là dựa vào cái đúng. Và tất yếu nếu mọi hoạt động phản khoa học đều là sai trái.

Đúng – sai trong quan hệ nhân tính được soi rọi từ các giá trị khoa học là cơ sở đầu tiên phân ranh giữa văn hoá và phản văn hóa trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Xưa nay dân tộc ta được coi là một dân tộc có nền văn hóa sâu bởi vì chúng ta luôn đứng về phía chính nghĩa mà chống phi nghĩa. Hiện nay thời đại mới đòi hỏi chúng ta phải đặt chủ nghĩa yêu nước trên nền tảng khoa học và giao lưu quốc tế của thời đại. Khoa học sẽ phát triển các giá trị truyền thống, tăng trưởng tính hiện đại của văn hóa và khắc phục dân cư phản văn hóa bất kể nó có từ nguồn gốc nào.

Phản văn hoá thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa học, chống lại công lý và chân lý. Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát triển các giá trị văn hóa và khắc phục các hiện tượng phản văn hoá. Pháp luật là cùng tuyến với cái đúng. Nó là ngọn đèn soi rọi những nơi ẩn nấp của cái sai, phát hiện mầm rễ của các phản văn hóa. Xây dựng một nền khoa học mạnh, lấy Nhà nước pháp luật làm trung tâm, mở mang trình độ dân trí là một trong những giải pháp khắc phục các phản văn hóa.

Biểu trưng thứ hai của các hiện tượng phản văn hóa: thường đứng về phía cái Ác chống lại cái Thiện. Thiện và ác từng là cặp phạm trù nữa phân ranh giữa văn hóa về phản văn hóa. Làm điều thiện là có văn hoá và làm điêu ác là phản văn hóa.

Tuy nhiên, đạo đức của con người vốn là sản phẩm của các lợi ích. Lương tâm, vinh dự, nghĩa vụ, trách nhiệm, ý nghĩa cuộc sống đều gắn với các lợi ích giai cấp. Hoạt động giải phóng của những người lao động nhằm thoát ra khỏi mọi áp bức bóc lột được giai cấp vô sản coi là hợp đạo đức, có văn hóa, nhưng lại bị giai cấp bóc lột cho là vô đạo đức, phản văn hóa. Lấy chuẩn thiện – ác để đánh giá một hiện tượng văn hóa và phản văn hoá, trong cuộc sống hiện nay phải xuất phát từ quyền lợi giai cấp. Cái có lợi lợi cho giai cấp tiến bộ thường được lịch cử xác nhận là có văn hoá. Những cái phục vụ cho giai cấp phản động thường là những hiện tượng phản văn hóa. Nền đạo đức bạn lực, chém giết của bọn phát xít và bọn phân biệt chửng tộc không thể là thước đo của các giá trị văn hóa ở thời đại ta. Nó chính là nguyên nhân làm xuất hiện các phản văn hoá mà loài người tiến bộ lên án.

Cái thiện, cái ác ngoài nội dung giai cấp, nó bao chứa tính chất thời đại. Tính chất của các phản văn hoá gắn chặt với các thời đại sản sinh ra nó. Trước đây người ta nhuộm răng đen, ăn trầu, tách mình ra khỏi lao động chân tay được coi là người quân tử. Trong thời đại cũ, người có văn hoá được xác định từ số của cải mà họ có. Người giàu thường được coi là có văn hoá và người nghèo được coi là thiếu, hoặc vô, hoặc phản văn hóa. Nhưng ở thời đại ta hiện nay, chuẩn đạo đức đã khác trước. Trước hết nó không phải là đạo đức chấp nhận. Các chuẩn thiện – ác của phản văn hóa có gia tăng. Tục thờ cúng tổ tiên, nhớ ơn ông bà, thành kính với những người đã có công giáo dục và giáo dưỡng, đã có người cho là phản văn hoá nó mang tính hành lễ, dị đoan. Ngược lại tục trai gái hôn nhau ở công viên, bến tàu trong các nước phương Tây được coi là hiện tượng văn hóa, nhưng ở người Ấn Độ và một số nước khác thì đó là hiện tượng phản văn hóa!

Tuy có khác nhau về chuẩn đạo đức xác định văn hóa và phản văn hóa ở một số dân tộc khác nhau, nhưng trong chiều sâu của các quan hệ đạo đức là có tính nhân loại. Ở đâu thì cái thiện, hòa bình, hữu nghị, sự quan tâm đến con người, lương tâm, vinh dự cũng đều là cái thiện, đại biểu cho văn hoá, ở đâu thì cái ác, cái giả, sự tàn bạo, các quan hệ mất nhân tính, vô luân, không có lương tâm cũng bị coi là các hiện tượng thiếu văn hóa, vô văn hóa và phản văn hoá.

Cái thiện thường quang minh, chính đại, cái ác thường châm biếm, ngàn hóa lẩn quất trong cái thiện và lợi dụng cái thiện. Cái ác cũng có sức sống bất tận như cái thiện: Nó hiện diện ở mọi thời và mọi người. Cải ác là ngọn nguồn của mọi phản văn hóa. Dù phản văn hóa nấp dưới dưới hình thức nào, nhưng hễ ta tìm thấy cái đuôi ác độc của nó thì không dễ bề trốn tránh.

Cặp phạm trù thứ ba phân ranh giữa văn hóa và phản văn hóa là cặp phạm trù Đẹp – Xấu. Cái đẹp là tiêu biểu của văn hóa và cái xấu là đặc trưng của phản văn hóa.

Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đã rất yêu cái đẹp. Từ tình cảm lớn đối với cái đẹp, nhân dân Việt Nam đã hình thành một nền văn hóa cổ truyền đầy những mỹ tục và tập quán nền nã. Tình yêu đối với cái đẹp là cơ sở quan trọng để khắc phục cái xấu. Trong trường kỳ lịch sử, cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu diễn ra trên bình diện văn hóa và phản văn hoá. Nhân dân, các lực lượng tiến bộ đứng về phía cái đẹp, xây dựng cuộc sống có văn hoá, đấu tranh chống cái xấu, phủ định các phản văn hóa. Các truyện nôm, truyện cười đều phản ánh các mâu thuẫn giữa cái đẹp và cái xấu và kết cục của nó văn hóa được khẳng định và phản văn hóa bị phủ định.

Gần đây, trong xã hội chúng ta, cuộc đấu tranh giữa văn hoá và phản văn hoá biểu hiện trên bình diện đẹp – xấu diễn ra rất quyết liệt. Tuy nhiên, có một hiện tượng nhiều người dễ nhận biết là cát đẹp đang lẩng tránh dần, có chỗ nó để mặc cho cái xấu hoạt dạng. Trong lao động người ta thả sức làm hàng giả và ít chú ý đến việc hoàn thiện như quan hệ lao động. Trong giao tiếp, rất nhiều thị hiếu thấp hèn xuất hiện. Sự ăn mặc lố lăng cùng với ngôn từ thô thiển và sở thích sặc mùi con buôn hầu như thỏa sức hoành hành bất chấp mọi dư luận. Nó đang ăn sâu vào mối quan hệ giữa con người với con người, đến các gia đình, vào cả bàn thờ ông bà ông vải, gia nhập vào nhân cách cá nhân, gõ cửa để tổ chức chính trị và ngồi chỗm chệ giữa tâm hồn nhà nghệ thuật – người sáng tạo ra cái đẹp.

Không hiểu làng người ta đã nhân danh văn hóa nào mà phủ định truyền thống, bác bỏ lịch sử, kích dâm, bạo loạn và nguyền rủa tổ quốc, nhân dân mình? Không hiểu người ta vì cái đẹp gì mà nêu ra những chuẩn của các quan hệ văn hóa trước hết là tiền và quyền? Cái đẹp hiện nay đang bị tấn công tứ phía bởi các phản văn hóa. Bộ mặt len luốc của cái xấu đang bôi bẩn trên đường phố, nó làm méo mó các công trình kiến trúc, nó làm mất hết ý nghĩa văn hóa ở các công viên, nó làm cống rãnh tràn trên mặt đường, rác rưởi ùn giữa nơi công cộng và các hành động khả ố diễn ra công khai trước mọi người. Cần nhận diện và có biện pháp tích cực nhất chống các phản văn hóa này. Nó sẽ là chất thải gây độc đến toàn bộ sự phát triển sâu xa nhất của xã hội cho mãi tới mai sau.

Cái sai – ác – xấu là ba mụ phù thuỷ biến hóa, tàng hình ẩn sâu vào các quan hệ của con người. Nó là nguyên nhân của một phản văn hóa, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Nó sẽ bị hiện nguyên hình gớm ghiếc khi chiếc gương kỳ diệu của cái đúng, cái tốt, cái đẹp soi vào.

Tuy vậy, dù nó có hiện hình là những con quỷ ác độc thì còn cần phải có ngọn lửa thần kỳ của kỷ cương xã hội, khoa học, pháp luật và của sự phát triển dân trí mới thiếu dốt được nó. Mỗi xã hội văn minh và ổn định bao giờ từ lòng sâu của nó cũng thiết lập một cơ chế điều chỉnh phát triển văn hóa và hạn chế đến mức thấp nhất các phản văn hóa. Cơ chế đó là sự tương tác mạnh mẽ giữa lao động trí óc và lao động chân tay, thiết lập Nhà nước pháp luật hùng mạnh, xây dựng nền khoa học tiên tiến, giải phóng các năng lực sáng tạo, hình thành nên dân chủ có chất lượng cao, mở rộng thông tin làm nẩy sinh các giá trị văn hóa có tính chất nhân bản trên cơ sở một nền giáo dục tiên tiến. Cơ chế này vận hành dưới ánh sáng của chế độ chính trị tiến bộ, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội sẽ trong sạch dần, văn hóa sẽ đón đỡ mọi sự phát triển và đẩy các phản văn hoá ra khỏi các quan hệ nhân tính làm cho con người ngày càng tin, càng yêu và càng hiểu biết lẫn nhau hơn.

(st)

Share:

‘Cách mạng Công nghiệp 4.0’ – một Cụm từ Phù phiếm?

 Khi chúng tôi dùng cụm từ “cách mạng công nghiệp 4.0” thì các công ty Mỹ, Anh, Pháp, Ý không hiểu ý chúng tôi muốn nói gì. Họ không quá bận tâm đến “cách mạng 4.0”. Công nghệ thông tin liên tục thay đổi trong 20 năm qua và nó cứ thay đổi tới đâu thì họ ứng dụng tới đó tại doanh nghiệp của mình.

‘Cách mạng công nghiệp 4.0’ – một cụm từ phù phiếm?

Tôi mới gặp một công ty có sản phẩm đặc biệt ở thành phố Bologna, Italia. Họ làm ra một phần mềm ứng dụng trong thiết kế, sản xuất vật liệu xây dựng trên nền tảng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Người dùng có thể khai thác cơ sở dữ liệu gạch lát của các hãng trên toàn cầu, áp dụng cho các thiết kế mình tự sáng tạo. Ứng dụng này lần đầu tiên giúp một người bình thường có thể làm được công việc của nhà thiết kế chuyên nghiệp.

Tôi rất ngưỡng mộ và hỏi sâu về việc xây dựng ứng dụng tuyệt vời này. Họ nói nó được xây dựng và nâng cấp trong nhiều năm qua cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Tôi hào hứng nhắc đến khái niệm cách mạng 4.0, dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây hay số hóa thì ngạc nhiên thay, họ bảo chẳng biết đến những trào lưu này. Họ chỉ đơn giản đã và vẫn làm như bao năm qua.

Nhờ xuất khẩu hàng đi nhiều nước, tôi thường xuyên tiếp xúc với doanh nhân khắp nơi. Điều khiến tôi ngạc nhiên là khi chúng tôi dùng cụm từ “cách mạng công nghiệp 4.0” thì các công ty Mỹ, Anh, Pháp, Ý không hiểu ý chúng tôi muốn nói gì. Khi tôi giải thích về “cơ hội và thách thức” thì đối tác trả lời, họ không quá bận tâm đến “cách mạng 4.0”. Công nghệ thông tin liên tục thay đổi trong 20 năm qua và nó cứ thay đổi tới đâu thì họ ứng dụng tới đó tại doanh nghiệp của mình.

Hầu như ngày nào tôi cũng được, phải nghe cụm từ “bốn chấm không” ở Việt Nam. Hơn một năm qua, từ chính phủ tới các bộ ngành địa phương, doanh nghiệp, đâu đâu người ta cũng nhắc đến cách mạng công nghiệp 4.0. Trước một chuyến bay, tôi đọc trên điện thoại tin tức về một cuộc thi hoa hậu có câu hỏi ứng xử về cách mạng 4.0. Máy bay vừa hạ cánh, giở điện thoại, lại thấy email từ Quận ủy Bình Thạnh. Họ mời doanh nghiệp dự hội thảo của quận ủy tổ chức với chủ đề: “Cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và Thách thức”.

Mọi giới trong xã hội đã vào cuộc rầm rộ để đón nhận cách mạng công nghiệp 4.0 và cho rằng nó đã và đang diễn ra sâu rộng trên toàn cầu. Nhưng theo tôi, cần hơn là những hành động thực sự.

Hành động đơn giản là tạo ra môi trường tốt và sự hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp cùng cộng đồng khởi nghiệp để họ sống được thay vì phải bỏ cuộc. Rất nhiều dự án khởi nghiệp của người Việt đã chọn Singapore thay vì quê hương mình. Singapore đã tạo ra môi trường thân thiện đặc biệt với người kinh doanh từ các chính sách thiết thực về thuế, thủ tục. Ngân hàng Trung ương MAS đã cấp hàng trăm triệu USD để phát triển các dự án hỗ trợ ngành công nghệ và công nghệ tài chính. Không riêng Singapore, các nước Đông Nam Á quanh Việt Nam đều đã có những chương trình hành động rất cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng công nghệ. Trong khi đó, tại Việt Nam, rất khó có thể thấy được các chương trình hỗ trợ cụ thể của chính phủ.

Ở một khía cạnh khác, việc tuyên truyền thái quá về “cách mạng 4.0” khiến đã có những người coi nó như một sức mạnh thần kỳ. Trong một hội thảo của Microsoft tổ chức mới đây, tôi thấy đại diện một doanh nghiệp lên diễn đàn hùng hồn khẳng định rằng họ sẽ ứng dụng số hóa trong công ty với khẩu hiệu “Thay đổi hay là chết”. Cũng vận hành doanh nghiệp, tôi cho rằng số hóa trong hoạt động là tốt, nhưng không phải cứ số hoá ắt sẽ thành công. Sứ mệnh đầu tiên của doanh nghiệp là vật lộn với sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường, có lợi nhuận để duy trì hoạt động và đảm bảo đời sống nhân viên; muốn số hóa thì phải dựa trên nền tảng hoạt động bài bản, chuyên nghiệp, đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, phải có sẵn sản phẩm tốt, cạnh tranh trên thị trường.

Hãy thử hỏi trong hàng trăm nghìn doanh nghiệp Việt đang vật lộn để tồn tại, có bao nhiêu người sẽ số hóa thành rồng. Việc hô hào thái quá và khẳng định vội vàng về “cuộc cách mạng” sẽ tạo ra những mặt trái, gây ra sự hoang mang bất ổn trong giới doanh nghiệp. Sẽ xuất hiện những doanh nghiệp nhỏ, có ngân sách hạn hẹp nhưng trước những lời đe dọa “thay đổi hay là chết” sẽ phải bỏ ra chi phí lớn cho việc chạy đua hệ thống, các ứng dụng số hóa chưa phù hợp.

Chúng ta không thể nghiêm trọng hóa quá đà một cuộc cách mạng nào đó. Bởi cuộc sống của con người không bao giờ đứng yên, nhưng nó không đảo lộn ngay lập tức một cách dễ dàng. Chỉ vài năm trước đây thôi, việc sử dụng điện thoại di động còn xa xỉ đối với người Việt thì nay, người bán rong cũng dùng điện thoại thông minh cho công việc. Họ chẳng hề tuyên bố có một cuộc cách mạng nào với bao nhiêu chấm trong thay đổi ấy.

Gần đây, người ta còn tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo về chính phủ điện tử, thành phố thông minh, đô thị hiện đại. Tôi không biết cuộc cách mạng có diễn ra nhưng tôi chắc chắn những chiếc xe ô tô không người lái Tesla không thể vận hành trên những con đường luôn tắc nghẽn hay ngập nước của TP HCM. Sẽ vẫn có những kỹ sư điện toán e ngại đến Việt Nam làm việc chỉ vì an toàn thực phẩm. Không có cuộc cách mạng “mấy chấm” nào trong giáo dục để sáng mai trẻ em miền núi, vùng xa không còn phải bơi qua sông hay bị bắt nghỉ học, ngay lập tức giúp mỗi bệnh nhân ở Bệnh viện ung bướu TP HCM được nằm một giường riêng thay vì ghép với hai người khác.

Cải thiện chất lượng sống đồng đều cho mọi người dân mỗi ngày mới là mục tiêu cốt lõi của các nhà quản lý. Gọi tên đúng mục tiêu phát triển, thì việc khoác lên nó một cái áo “mấy chấm” chỉ còn là chuyện phụ.

(st)

Share:

Cạnh tranh Kinh tế và Tiến trình Lịch sử Loài Người

 10,000 năm lịch sử loài người dạy cho các quốc gia bài học gì về làm giàu?

Về tác giả: Jared Diamond là giáo sư Địa lý học tại Đại học Los Angeles, Mỹ. Ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng danh giá, tiêu biểu có Huy chương Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Cuốn Súng, vi trùng và thép (Guns, Germs and Steel) của ông xuất bản năm 1997, đoạt giải Pulitzer và thuộc hàng “best seller”, cùng cuốn Sụp đổ (Collapse)ra cuối năm 2004 đã đưa ông vào hàng ngũ những nhà tư tưởng hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất ở Mỹ.

Bài viết này được trích trong một bài thuyết giảng của ông tại một bảo tàng, trong đó ông chia sẻ rằng: “phần lớn những bài thuyết giảng mà chúng ta nghe ở bảo tàng toàn đề cập đến những chủ đề có vẻ hay ho nhưng chẳng có giá trị thực dụng: ví dụ như là, chúng sẽ không bao giờ giúp bạn trở nên giàu có được. Hôm nay tôi muốn giúp cân bằng lại điều đó và chia sẻ với các bạn về lịch sử quá trình trở nên giàu có của chúng ta.”

Trong bài viết này, tác giả sử dụng ngôi thứ nhất.

.

Trong cuốn Súng, vi trùng và thép, tôi từng đặt ra câu hỏi tại sao lịch sử diễn ra theo các chiều hướng khác nhau trong suốt 13000 năm qua trên lục địa Á – Âu, châu Mỹ, vùng châu Phi hạ Sahara và cả vùng thổ dân châu Úc? Kết quả là như các bạn thấy, trong 500 năm cuối về đây, chính người Châu Âu là người đi chinh phục những người Mỹ bản xứ, những người thổ dân châu Úc châu Phi hạ Sahara chứ không phải ngược lại.

Phần lớn cuốn sách tôi quan tâm đến việc so sánh dân cư ở các lục địa khác nhau, nhưng tôi biết mình không thể cho xuất bản một cuốn sách mà không so sánh lịch sử của các lục địa ấy và coi lục địa Á – Âu là một khối mà không đề cập gì đến những vấn đề hấp dẫn ẩn sâu trong nó. Vì sao chính là người Châu Âu, chứ không phải người Trung Quốc, Ấn Độ hay Trung Đông, mới là người chinh phục thế giới và xâm chiếm thuộc địa khác? Tôi dành bảy trang cuối của cuốn Súng, vi trùng và thép để bàn về vấn đề này. Tôi cho rằng mình đã tìm ra lời đáp đúng. Nhưng sau khi cuốn sách được xuất bản, tôi nhận về rất nhiều phản hồi, mà trong đó thú vị nhất là những phản hồi liên quan đến việc phân tích, so sánh lịch sử của các vùng kể trên.

Đặc biệt, bên cạnh những lời đánh giá mà Bill Gates dành cho cuốn sách của tôi, tôi có tới hàng trăm bức thư trao đổi từ các nhà kinh tế học và thương nhân. Họ cho rằng khả năng cao tồn tại sự song song giữa lịch sử xã hội loài người và lịch sử các nhóm dân tộc. Phản hồi này có liên quan đến một câu hỏi lớn: có cách tổ chức nào trong các tổ nhóm và doanh nghiệp giúp tối đa hóa năng suất, kích thích sáng tạo và vươn tới sự giàu có không? Một nhóm người nên có sự tập trung hóa hay nên có sự xáo trộn hay thậm chí là vô tổ chức? Cần duy trì một nhóm duy nhất hay chia thành nhiều nhóm nhỏ? Nên duy trì giao tiếp cởi mở giữa các nhóm hay tạo ra bức tường giữa các thành viên để làm việc bí mật? Và có nên dựng những biểu thuế bảo hộ đối với bên ngoài, hay là tạo điều kiện cho doanh nghiệp và chính phủ cạnh tranh tự do?

Câu hỏi về tổ chức nhóm phát sinh ở nhiều cấp độ, trong các loại hình nhóm khác nhau, bao gồm cả việc tổ chức một chính phủ hay một quốc gia. Vậy cách tốt nhất để quản lý một quốc gia là gì? Các lập luận cổ điển cho rằng, chế độ độc tài ôn hòa, hệ thống liên bang hoặc tự do không chính phủ là những cách tối ưu nhất. Tương tự với một công ty, đố bạn biết vì sao Microsoft ngày càng thành công, vì sao IBM sau công cuộc tái cơ cấu do doanh thu “bết bát” đã thành công hơn cả thời kỳ hưng thịnh nhất trước đó?

Khi tôi còn là một cậu bé lớn lên ở Boston, Route 128 là tuyến đường vành đai công nghiệp của thành phố. Nhưng giờ Route 128 ít được nhớ tới bởi sự bùng nổ của Thung lũng Silicon. Mối quan hệ tương tác của các doanh nghiệp ở hai nơi này cũng khác nhau và có thể dẫn tới những kết quả rất khác.

Luôn tồn tại những khác biệt rõ rệt về hiệu quả giữa các nền kinh tế, khi so sánh năng suất lao động bình quân của Nhật Bản và Hoa Kỳ, của Pháp và Đức. Theo đó, năng suất và sự phát triển của các ngành nghề trong cùng một quốc gia cũng không giống nhau. Ví dụ, ngành sản xuất kim loại của Đức có thể sánh ngang với Hoa Kỳ, chứng tỏ các ngành công nghiệp của Đức rất mạnh, tuy nhiên, ngành sản xuất bia của Đức chỉ đạt sản lượng bằng một nửa Hoa Kỳ. Chúng ta nghĩ rằng thế giới đang hoang tưởng về nền công nghiệp thần kì của Nhật Bản, nhưng đúng là vậy, ngành sản xuất thép ở Nhật hiệu quả hơn ở Mỹ tới 45%. Những cũng đừng ngạc nhiên vì ngành sản xuất thức ăn của Nhật lại chỉ hiệu quả bằng 1/3 của Mỹ. Thêm một ví dụ nữa, ngành sản xuất thép của Hàn Quốc đạt hiệu suất ngang Hoa Kỳ nhưng so mặt bằng chung tất cả các ngành công nghiệp thì lại thua kém và tụt hậu đáng kể. Vậy có phải sự khác biệt trong cơ cấu tổ chức sản xuất bia và thép của Đức, khác biệt trong cơ cấu tổ chức sản xuất thép và thức ăn của Nhật đã tạo ra sản lượng ngành khác nhau?

Rõ ràng, thành công của một tổ chức phần nào đó phụ thuộc vào đặc tính của các cá nhân tham gia. Thành công của Microsoft một phần là nhờ có Bill Gates. Nếu là một kẻ khờ sáng lập ra Microsoft, dù có một cơ cấu tổ chức hoàn hảo đến đâu, chắc gì “gã khổng lồ” đã bành trướng như hôm nay? Lại có câu hỏi, nếu mọi thứ đã đạt mức cân bằng, thì trong dài hạn hoặc một khoảng thời gian nhất định, hình thái tổ chức nào là hiệu quả nhất? Tôi cam đoan rằng nhiều người trong số các bạn – những người đang có trong tay một ý tưởng kinh doanh nào đó, đều tò mò muốn biết câu trả lời.

Tôi đã thử nhìn nhận từ góc độ lịch sử loài người. Lịch sử hơn 13.000 năm của chúng ta có tới hàng chục ngàn phép thử khác nhau. Mỗi xã hội loài người đặc trưng cho một phép thử về cách thức tổ chức. Một số hình thái xã hội khá sáng tạo và đạt được kết quả tốt hơn những hình thái khác. Vậy điều ta học hỏi từ lịch sử nhân loại có giúp ta trở nên giàu có hơn không? Hãy cùng tôi khám phá hai thí nghiệm tự nhiên sau.

Thí nghiệm tự nhiên đầu tiên tìm hiểu về ảnh hưởng của sự cô lập, kích cỡ nhóm và sự tương tác giữa các nhóm tới năng suất của xã hội loài người. Trước tiên hãy nói đến sự cô lập. Nếu sự cô lập có ảnh hưởng tới loài người, hai hòn đảo Tasmania và Flinders ngoài khơi Đông Nam Australia chính là minh chứng rõ nhất. Ngày nay chúng nằm khoảng 200 dặm ngoài khơi, tách biệt khỏi nước Úc bởi eo biển Bass. 10.000 năm về trước, các eo biển tương đối nông, nên khi mặt nước đóng băng, nhà cửa nằm ngay trên mặt nước biển. Sau đó các dòng sông băng tan chảy, nước biển dâng cắt Tasmania ra khỏi lục địa. Vì vậy, Tasmania và Flinders vẫn là một phần của Úc.

Băng tan và nước biển dâng khiến dân Tasmania không thể tìm ra đất liền vì thuyền bè của họ chỉ đi được vài chục giờ là chìm. Các tàu thuyền từ đất liền của thổ dân Úc cũng không thể cập tới Tasmania.

Do đó, quần đảo này chính là mô hình nghiên cứu sự cô lập chưa từng có trong lịch sử nhân loại. 4000 dân trên đảo không có bất kỳ sợi dây liên kết nào với đất liền cho tới tận năm 1642, khi những người Châu Âu đầu tiên đặt chân lên quần đảo. Vậy điều gì đã chia cắt cộng đồng 4000 người của Tasmania và cộng đồng 200 người trên quần đảo Flinders với thế giới bên ngoài trong suốt 10.000 năm?

Người Châu Âu tìm ra Tasmania vào thế kỉ 17, đó là thời điểm sơ khai, “tiền sử” của khoa học công nghệ trong xã hội hiện đại. Nhưng ở quần đảo lúc bấy giờ còn chẳng có một ngọn lửa đèn dầu, không có công cụ bằng xương, bằng đá, không có lấy một vũ khí phòng vệ, và họ thậm chí không phân biệt nổi cá với các loài động vật khác. Như vậy có thể lý giải rằng, chính các công cụ tiên tiến mà thổ dân Úc sống ở đất liền phát minh ra đã làm cô lập 4000 người ở Tasmania – những người chẳng có nổi một phát minh nào. Nhưng các nhà khảo cổ đã tìm ra một điều nữa: trong 10.000 năm bị cô lập, người Tasmania đã mất đi những công cụ sáng chế quan trọng nhất, chứ không phải họ không thể sáng chế. Xương tối cổ được tìm thấy sâu trong lòng đất Tasmania, nếu cư dân đảo đào được chúng, họ sẽ tạo ra nhiều thay đổi. Bởi từ công cụ bằng xương, bạn có thể tạo ra kim chỉ, với kim chỉ, bạn sẽ tìm ra cách làm áo ấm. Tasmania thuộc vĩ độ nằm giữa Vladivostok và Chicago, mùa đông tuyết rơi rất lạnh nhưng thổ dân ở đây vẫn khỏa thân.

Chúng ta giải thích thế nào cho những mất mát với nền văn hóa của Tasmania khi người dân không thể phát minh ra công cụ? Thiệt hại với Flinders còn tồi tệ hơn bởi 200 dân cư đảo đã tuyệt chủng hàng thiên niên kỉ trước. Rõ ràng là ở các xã hội nhỏ bị cô lập ấy có gì đó khiến cho những phát minh đang có bị thất truyền, hay việc cải tiến diễn ra chậm chạp. Điều đó không chỉ xảy ra ở mỗi Tasmania, Flinders mà còn ở nhiều xã hội cô lập khác. Quần đảo eo biển Torres nằm giữa Australia và New Guinea để thất truyền chiếc xuồng; dân vùng Polynesian mất đicung, mũi tên và đồ gốm; người Eskimo ở Bắc Cực mất đi chiếc thuyền kayak và chó, cònngười Nhật Bản làm mất đi súng.

Để hiểu hơn về những sự mất mát trong các xã hội cực kỳ cô lập này, dễ dàng nhất là xem xét trường hợp của Nhật Bản, xem một xã hội văn minh đã chứng kiến và mô tả sự thất truyền của vũ khí như thế nào. Súng đến Nhật lần đầu tiên vào năm 1543, khi hai nhà thám hiểm Bồ Đào Nha cập bến cảng và rút súng bắn con vịt đang chạy trên bờ biển. Hai nhà quý tộc Nhật Bản chứng kiến đã không khỏi ngạc nhiên và ấn tượng, họ quyết định mua lại khẩu súng với giá 10.000 USD và còn dùng kiếm để mô phỏng lại hành động bắn súng. Một thập niên sau đó, Nhật Bản là đất nước tàng trữ nhiều súng hơn bất cứ quốc gia nào, năm 1600, Nhật sở hữu khẩu súng tốt nhất thế giới. Tuy nhiên, những thế kỉ tiếp theo, người Nhật chẳng còn nhớ súng là gì nữa.

Trong quân đội Nhật lúc bấy giờ có một lực lượng được gọi là chiến binh Samurai. Samurai đứng ở hàng ngũ đầu, hô vang khẩu hiệu và tự đáp lại khẩu hiệu đó để nâng cao tinh thần quân sĩ. Các Samurai nhận ra rằng, súng sẽ giết chết họ đầu tiên. Họ đề nghị hạn chế cấp phép cho các nhà máy chế tạo súng. Sau đó, chỉ còn ba nhà máy được cấp phép sửa chữa súng. Ba nhà máy này sản xuất 100 khẩu một năm rồi giảm xuống mười khẩu một năm, rồi ba khẩu một năm. Đến năm 1840, thuyền trưởng kì cựu Commodore Perry của quân đội Mỹ đến thăm Nhật và chẳng thấy bóng dáng của khẩu súng nào nữa. Không thể phủ nhận Nhật Bản đã mất đi một công nghệ rất mạnh.

Khi súng ống đến Châu Âu, một vài hoàng tử cũng ra lệnh cấm, có người cấm cả việc in ấn. Nhưng khi nhìn thấy hoàng tử nước kế bên tới thăm và cầm súng, họ biết mình đã sai. Các nước này nhanh chóng cho du nhập súng trở lại và còn tìm cách chiếm đoạt vũ khí của láng giềng. Mất mát ở Nhật Bản là bởi quần đảo này bị cô lập, không có người hàng xóm nào đe dọa và cũng không biết nên chiếm đoạt vũ khí từ ai.

Câu chuyện về các xã hội cô lập minh họa hai nguyên tắc chung trong mối liên hệ giữa đặc tính của nhóm người với các phát minh và sự đổi mới. Thứ nhất, trong bất kỳ xã hội nào (trừ những xã hội hoàn toàn cô lập), các sáng kiến hầu hết được du nhập từ bên ngoài, chứ không tự hình thành trong xã hội đóThứ hai, bất kỳ xã hội nào cũng chịu ảnh hưởng bởi trào lưu và ý thích của người dân. Nói “trào lưu” là nói đến những thói quen không tạo ra giá trị kinh tế. Các xã hội hoặc là du nhập những hoạt động không tạo ra giá trị kinh tế, hoặc chối bỏ những hoạt động tạo ra giá trị kinh tế. Nhưng thường thì các xu hướng này bị đảo ngược lại, vì họ cảm thấy bị xã hội bên cạnh vượt lên hay cảm thấy việc chối bỏ các hoạt động cũ là một sai lầm lớn, như trong ví dụ về các hoàng tử châu Âu cấm dùng súng rồi lại du nhập lại, như trong ví dụ trên. Tóm lại, cạnh tranh giữa các xã hội là cái thúc đẩy việc phát minh ra công nghệ mới và tiếp tục những công nghệ hiện có. Chỉ ở xã hội bị cô lập – nơi không tồn tại cạnh tranh, thì trào lưu công nghệ có giá trị mới có thể mất đi vĩnh viễn.

Một bài học nữa tôi rút ra từ lịch sử là nguyên tắc phân chia tối ưu. Câu hỏi cụ thể là, nhóm nhân viên bảo tàng, doanh nghiệp, ngành sản xuất bia Đức, hay Route 128 nên hoạt động dựa trên mô hình tổ chức lớn hay phân ra thành nhiều nhóm nhỏ? Cách tổ chức nhóm hiệu quả nhất là gì?

Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử của Trung Quốc và Châu Âu để so sánh. Tại sao công nghệ ở thời kì Phục hưng của Trung Hoa xếp sau Châu Âu? Nhiều người cho rằng đó là kết quả của tôn giáo, trong khi Nho giáo ở Trung Quốc khá bảo thủ thì Công giáo ở Châu Âu luôn kích thích các sáng tạo khoa học. Vậy cần hỏi thêm Galileo về ảnh hưởng của hệ tư tưởng Do thái và Thiên chúa giáo tới các phát kiến phục hưng sau đó mới xem xét đến Trung Hoa. Thời kỳ đầu phục hưng, người Trung Quốc dẫn đầu thế giới với hàng loạt phát minh ra la bàn, gang, khóa cửa, bột súng, giấy, máy in, bánh lái…

Nhưng cuối cùng, Trung Hoa để mất vị trí dẫn đầu vào tay người Châu Âu. Về tàu biển, tính đến năm 1400, Trung Quốc có số lượng đông nhất, tốt nhất và đi xa được nhất. Tàu Trung Quốc có thể đi qua rất nhiều vùng biển rộng lớn trên thế giới. Giữa năm 1405 và 1432, Trung Quốc cử 7 hạm đội gồm hàng trăm tàu ra khỏi lãnh thổ đi tìm kho báu. Số thuyền viên lên tới 20.000 người. Hạm đội khổng lồ đi từ Trung Quốc tới Indonesia, Ấn Độ, Ả Rập và bờ biển phía Đông châu Phi. Họ dường như đã đi qua Mũi Hảo Vọng, đến bờ Tây châu Phi và xâm chiếm châu Âu lục địa.

Ngành tàu đồ sộ của Trung Quốc đi đến hồi kết khi đất nước này trải qua giai đoạn cô lập, như ai cũng có thể thấy trong lịch sử của rất nhiều quốc gia. Năm 1432, Trung Quốc có Hoàng đế mới. Hoàng đế ủng hộ phe chống hải quân và cho rằng chi tiêu tiền bạc vào hạm đội là cực kì lãng phí. Ông ra lệnh tháo dỡ tất cả các nhà máy đóng tàu, ngưng sản xuất tàu trên toàn đất nước. Truyền thống đóng tàu và đi biển của người Hoa từ đó mất đi chỉ vì quyết định của một người. Do vậy, Trung Quốc ngậm ngùi xếp sau Mỹ và Anh, dù người Mỹ tới năm 1930 mới vượt qua đại khủng hoảng, người Anh năm 1920 mới phát minh ra đèn điện. Trung Quốc lúc này có khác gì một hòn đảo khổng lồ, bị cô lập như Tasmania chứ?

Những gì xảy ra với đội tàu viễn dương của Châu Âu trái ngược với Trung Quốc. Columbus là người Ý và ông muốn lái tàu vượt Đại Tây Dương, nhưng người Ý cho đó là một ý tưởng ngu ngốc và không ủng hộ. Ông đến Pháp sau đó là Bồ Đào Nha để tìm sự giúp đỡ nhưng người Pháp và Bồ Đào Nha cũng chế nhạo ông. Columbus đi tới rìa Tây Ban Nha để viếng thăm một vị bá tước, người này cũng từ chối. Sau đó ông bày tỏ mong muốn với nhà vua và hoàng hậu Tây Ban Nha, họ cũng cho rằng đây là ý tưởng tốn tiền bạc, tốn thời gian.

Cuối cùng, vào lần thỉnh cầu thứ bảy, nhà vua và hoàng hậu đồng ý cho ông ba chiếc thuyền nhỏ. Và hẳn chúng ta ai cũng biết ông đã vượt Đại Tây Dương, khám phá Thế giới mới rồi trở lại Châu Âu như thế nào. Những người đi theo Columbus đều trở nên giàu có và quyền quý. Trong một thời gian ngắn sau đó, 11 quốc gia Châu Âu đồng loạt nhảy vào cuộc chiến giành thuộc địa. Bản chất của những sự kiện này là do châu Âu được chia thành nhiều mảnh, nhiều quốc gia nên Columbus có nhiều cơ hội.

Điều tương tự xảy ra với đồng hồ ở Trung Quốc: quyết định của một hHoàng đế khác đã cho đình chỉ toàn bộ ngành sản xuất đồng hồ trên toàn Trung Quốc lúc bấy giờ. Trung Quốc đang chuẩn bị sáng chế động cơ chạy bằng hơi nước đầu tiên trước cả cuộc Cách mạng công nghiệp Anh, nhưng chỉ một mệnh lệnh “Dừng lại”, chuyện động cơ hơi nước bị dẹp hoàn toàn. Ngược lại, ở châu Âu cũng có những hoàng tử nói không với đèn điện, với in ấn, với súng ống. Nhưng Châu Âu thời kỳ Phục hưng được chia ra làm 2000 công quốc nhỏ, một mệnh lệnh của một thằng ngốc không thể làm mất đi cả nền công nghệ. Các nhà sáng chế có nhiều cơ hội và luôn tồn tại sự cạnh tranh giữa các quốc gia. Khi một quốc gia trân trọng một giá trị nào đó, nước láng giềng cũng nhìn thấy tiềm năng và muốn chiếm đoạt nó. Vậy câu hỏi lúc này chuyển thành: tại sao Trung Quốc bao đời tìm đến sự thống nhất, trong khi các nước Châu Âu luôn cố gắng tách nhau ra?

Câu trả lời nằm ở vị trí địa lý. Hãy nhìn vào bản đồ của Trung Quốc và Châu Âu. Trung Quốc có bờ biển dài, bằng phẳng trong khi bờ biển của Châu Âu gồ ghề, mỗi chỗ thụt vào là một bán đảo. Sau này các bán đảo trở thành quốc gia độc lập, như bán đảo Hy Lạp, bán đảo Ibera, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển… Châu Âu có hai hòn đảo lớn đã giành được độc lập là Anh và Ai-len trong khi Trung Quốc không có hòn đảo nào đủ lớn để hình thành một quốc gia cho đến khi xuất hiện hòn đảo ngày nay là Đài Loan. Châu Âu bị cắt bởi các dãy núi, dãy Alps, Pyrenees, Carpathians chia châu lục thành nhiều công quốc. Trung Quốc không có có dãy núi nào cắt ngang cả.

Châu Âu có những con sông lớn chảy xuyên qua như sông Rhine, Rhone, sông Danube, Elbe nhưng Trung Quốc chỉ có hai con sông lớn chảy song song, được ngăn cách bởi vùng đất trũng nên sau đó nhanh chóng được nối thành kênh rạch.

Vì lý do địa lý, Trung Quốc đã thống nhất vào năm 221 trước công nguyên và hầu như duy trì sự được thống nhất đó. Trong khi Châu Âu chưa bao giờ thống nhất. Augustus không thể làm điều đó, Charlemagne không thể làm điều đó, cả Napoleon và Hitler cũng không thống nhất nổi Châu Âu. Cho đến nay, Liên minh Châu Âu vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thống nhất nội bộ.

Vì vậy, bài học ở đây là cuộc cạnh tranh giữa các nhóm người, các quốc gia đã giúp Châu Âu phát triển trong khi quyền năng vô hình của kẻ làm vua đã ngăn chặn sự đổi mới ở Trung Quốc. Kinh nghiệm đổi mới mà Trung Quốc có được là do khoảng thời gian đấu tranh để đi tới thống nhất hoặc nhờ vào kẻ xâm lược bên ngoài.

Điều đó cũng đúng ở hiện tại. Cách đây 20 năm, một vài tên ngốc trong bộ máy lãnh đạo của quốc gia đông dân nhất thế giới này đã đưa ra những ý tưởng dập tắt hệ thống giáo dục vào thời điểm cuộc cách mạng văn hóa, giáo dục, công nghệ đang bùng nổ nhất. Những kẻ ngốc này không thể tồn tại ở Châu Âu. Vậy ví dụ của châu Âu có chứng minh được việc phân thành thật nhiều mảng sẽ tốt hơn? Có lẽ không. Vì Ấn Độ là quốc gia bị phân mảnh nhiều hơn cả Châu Âu, nhưng đất nước Ấn Độ trước đây thua xa châu Âu cả nghìn bước.

Vậy không phân mảnh và phân quá nhiều mảnh đều gây ra bất lợi. Xã hội muốn nhanh đổi mới và tiến lên văn minh cần được phân thành những mảnh hợp lý.

Vậy hãy thử áp dụng tất cả những điều trên vào quá trình làm giàu của mỗi người chúng ta. Tôi sẽ cho bạn ví dụ về những ngành công nghiệp hiện đại, giàu có hiện nay. Đầu tiên là Mỹ và Nhật Bản. Tôi tưởng rằng hiệu suất ngành công nghiệp của Nhật và Đức cao hơn Mỹ nhưng không phải. Khi chia trung bình, hiệu suất của Mỹ lại cao hơn. Con số trung bình này che giấu sự khác biệt, cao thấp giữa các ngành trong một quốc gia và sự khác biệt trong cách thức tổ chức.

Ngành công nghiệp bia của Đức chỉ đạt được hiệu suất bằng 43% Hoa Kỳ trong khi ngành sản xuất thép và kim loại lại đạt sản lượng tương đương. Bia Đức ngon nổi tiếng, mỗi lần tôi và vợ đến Đức đều cố tình mang theo một vali trống để chứa thêm. Vậy tại sao người Đức không thể thành công trong sản xuất bia như sản xuất thép và kim loại, có phải họ không tìm ra cách thức tổ chức hoàn hảo cho ngành sản xuất bia?

Quy mô sản xuất bia ở Đức khá nhỏ, có khoảng 1000 công ty bia địa phương. Các công ty không phải cạnh tranh vì được độc quyền sản xuất ở địa phương đó và được hưởng các chính sách bảo hộ trước bia nhập khẩu. Mỹ có 67 nhà máy bia lớn, sản xuất ra 23 tỷ lít bia mỗi năm trong khi 1000 nhà máy của Đức chỉ sản xuất bằng một nửa. Trung bình, một nhà máy bia của Mỹ có hiệu suất gấp 31 lần của Đức.

Sự chênh lệch này là kết quả của thị hiếu địa phương và chính sách của Chính phủ. Người Đức cực kỳ trung thành với thương hiệu nhà. Họ chẳng cần phân biệt các thương hiệu với nhau vì bia được tiêu thụ trong vòng 30 dặm từ nơi ủ. Trong khi người Mỹ ai cũng biết thương hiệu của mình từ Budweiser, Miller hay Coors.

Ngành công nghiệp ở Đức không thể tạo ra nhiều lợi nhuận vì quy mô của nền kinh tế. Người Đức trung thành với bia Đức cũng bởi nhà nước quy định vậy. Bia ngoại khó có thể cạnh tranh vì chính phủ đưa ra luật về độ tinh khiết, trong đó quy định về những hợp chất nhất định. Đó chắc chắn không phải những hợp chất mà bia Mỹ, Pháp hay Thụy Điển có thể tuân theo. Vì lẽ đó mà bia Đức cũng khó cạnh tranh ở nước ngoài. Người mua bia Lowenbrau của Đức ở Mỹ cũng chẳng lạ gì dòng chữ: “Bia này không ủ được tại Đức mà ủ trên dây chuyền sản xuất của Mỹ.” Ngành công nghiệp xà phòng và điện tử tiêu dùng của Đức cũng kém hiệu quả vì thiếu đối thủ cạnh tranh.

Nhược điểm của ngành sản xuất bia Đức đã củng cố thêm lý thuyết về việc quá nhiều nhóm nhỏ và không cạnh tranh sẽ dẫn tới kém hiệu quả. Cùng nhìn sang ngành công nghiệp chế biến của Nhật Bản với 67.000 công ty nhưng chỉ đạt hiệu suất trung bình bằng 32% Mỹ (ở Mỹ có khoảng 21000 công ty). Dân số Mỹ lớn hơn Nhật Bản rất nhiều, vậy mà khi chia trung bình, Mỹ vẫn gấp Nhật tới 6 lần.

Cũng giống như niềm tin của người Đức, người Nhật tuyệt đối tin tưởng thực phẩm tươi sống. Nếu từng đến Nhật, bạn sẽ hiểu họ quan trọng ngày tháng trên bao bì thực phẩm như thế nào. Thùng sữa ở Mỹ chỉ đề ngày hết hạn trong khi ở Nhât luôn ghi rõ 3 loại ngày tháng: ngày sản xuất, ngày tới siêu thị và ngày hết hạn. Sữa được sản xuất trong đêm và tới siêu thị khi trời sáng. Nếu thùng sữa ra lò lúc 11:59 (tức là ngày hôm qua) thì nhiều người Nhật sẽ không mua. Do đó, sữa là ngành sản xuất mang tính độc quyền địa phương. Một nhà máy ở Hokkaido rõ ràng không thể cạnh tranh với nhà máy ở Kyushu, bởi đến khi sữa được chuyển đến Kyushu đã chẳng ai thèm mua nó.

Sự cuồng tín về thực phẩm sạch đã dẫn tới mô hình độc quyền địa phương. Thêm vào đó, chính phủ Nhật cũng đưa ra các chính sách củng cố vị thế của công ty địa phương. Chính phủ cản trở nhập khẩu các thực phẩm có thời hạn quá mười ngày như bò Mỹ, thịt gà vì người dân không tiêu thụ.

Kết quả là doanh nghiệp Nhật không phải cạnh tranh trong nước, cũng không tiếp xúc với đối thủ nước ngoài. Thịt bò biến thành món xa xỉ ở Nhật với giá khoảng 200 USD/ 1 pound (1 pound tương đương 0.45 kg), thịt gà có giá 25 USD/ 1 pound.

Tất nhiên điều này không đúng với các ngành công nghiệp thần kì khác của Nhật như thép, kim loại, xe hơi và các ngành công nghiệp điện tử hiện đại có đối tác từ Mỹ.

Vậy các ngành công nghiệp của Mỹ thì sao? Như tôi đề cập ở trên về sự áp đảo của thung lũng Silicon với Route 128, sau khi xuất bản “Súng, vi trùng và thép” tôi dành nhiều thời gian để trao đổi với các chuyên gia về hai khu vực này. Họ nói với tôi rằng đặc tính của các công ty ở hai vành đai công nghệ này khá khác nhau. Các công ty ở thung lũng Silicon đều cạnh tranh gay gắt và cho đó là điều hiển nhiên. Họ sẵn sàng trao đổi thông tin và mua bán các ý tưởng có lợi cho mình. Trong khi ở Route 128, các ý tưởng kinh doanh đều được giữ kín và tách biệt như các công ty sữa ở Nhật Bản.

Đó cũng là sự khác biệt giữa Microsoft và IBM. Tôi từng nài nỉ bạn bè làm việc tại Microsoft cho biết về mô hình hoạt động của “gã khổng lồ”. Tôi khá ấn tượng với mô hình làm việc theo đơn vị nhỏ, từ 5 đến 10 người, luôn không ngừng giao tiếp và trao đổi ý tưởng. Các đơn vị này được thành lập bất thường và cũng có thể tan rã. Trái với Microsoft, IBM của bốn năm về trước hoạt động theo mô hình các nhóm bí mật riêng rẽ dẫn tới mất khả năng cạnh tranh trong công ty. Sau khi CEO mới Ginni Rometty lên nắm quyền, bà đã quyết định thay đổi mô hình hoạt động theo hướng cởi mở như Microsoft và giúp công ty đạt được những thành tựu đáng kể.

Nhìn về lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy được một vài nguyên tắc bất thành văn. Thứ nhất, cô lập là bất lợi vì đa phần các nhóm đều lấy các ý tưởng từ bên ngoài. Thứ hai, nguyên tắc phân mảnh tối ưu khuyên bạn đừng cố tìm đến sự thống nhất, cũng đừng phân nhóm thành quá nhiều mảnh. Để xã hội vận hành hiệu quả, hãy tạo ra một số nhóm cạnh tranh với nhau nhưng vẫn đảm bảo được sự kết nối và giao lưu tự do. Đó phải chăng chính là nguyên tắc hoạt động vươn tới sự giàu có của một tổ chức doanh nghiệp?

Nhưng hãy để tôi kết thúc bài viết bằng một số điểm hạn chế sau đây, đó là “xét trong hoàn cảnh mọi thứ khác đều ngang bằng”. Như tôi đã đề cập ở trên, một tổ chức hoàn hảo giao cho một kẻ ngốc thì sớm muộn cũng thất bại. Như Microsoft phải nhờ có người như Bill Gates mới thành công được như hôm nay.

Ngoài ra, tôi cũng đã nói về các điều kiện để tối đa hóa năng suất, kích thích sáng tạo và khả năng sinh lời. Có những thứ khác phải xem xét đến trong một tổ chức, và không phải lúc nào năng suất cũng là thứ bạn đặt lên hàng đầu. Có những trường hợp mà tập trung hóa là cần thiết hơn. Như trong một cuộc chiến, bạn sẽ không muốn phân tán lực lượng cho cả không quân, hải quân và bộ binh để chúng chèn ép lẫn nhau. Nhưng nhớ là đừng cân nhắc tối ưu hóa năng suất trong gia đình nhé. Nếu bạn về nhà và bảo vợ rằng ông Jared Diamond khuyên chúng ta nên biết cạnh tranh để tạo ra nhiều của cải hơn, nên từ tháng này ai kiếm được nhiều tiền hơn sẽ được nghỉ ngơi, người kiếm ít hơn thì phải làm mọi việc nhà. Như thế thì bạn chết chắc!

Trong gia đình và một số tổ chức đặc biệt, rõ ràng không nên dùng năng suất để đánh giá hiệu quả của cá nhân hoặc cả nhóm. Nhưng với các nhóm như doanh nghiệp, ngành công nghiệp, quốc gia thì năng suất là yếu tố tối quan trọng. Để tiến tới sự giàu có và thịnh vượng, chúng ta có thể thử nghiệm các mô hình tổ chức khác nhau trên doanh nghiệp, xem doanh nghiệp nào phá sản trước (nếu bạn đủ nguồn lực). Sau 20 năm, có lẽ ta sẽ tìm ra cách tốt nhất. Nhưng cách làm đó thật ngu ngốc. Tôi tin rằng việc nhìn lại lịch sử để so sánh các mô hình tổ chức khác nhau sẽ mang đến cho chúng ta nhiều bài học quý giá. Hy vọng rằng các bạn có thể áp dụng những bài học này để đạt tới sự giàu có – cái thứ cho đến nay vẫn lảng tránh tôi.

(st)

Share:

Translate