Lightworkers là gì và các đặc tính tâm linh của Lightworkers

Lightworkers là gì và các đặc tính tâm linh của Lightworkers

1 - Từ rất sớm trong cuộc sống của họ, họ cảm thấy họ là khác với mọi người xung quanh. Khi lớn lên, họ thường xuyên cảm thấy bị cô lập từ những người khác. Họ thường cảm thấy cô đơn và bị hiểu lầm. Họ thường bị gán ghép là chủ nghĩa cá nhân, cao ngạo hay quá tách biệt ... Lightworkers thường phải vật lộn để dung hòa những tính cách độc đáo của riêng mình vào trong cuộc sống.

2 - Lightworkers thường gặp khó khăn khi cảm thấy phải làm những việc chán ngắt và đơn điệu ở nhà. Họ không thích làm những công việc truyền thống mang tính lặp đi lặp lại. Họ không thích làm việc trong những cơ cấu tổ chức cứng nhắc.
Share:

Thần thông và phương tiện hiện đại

                       

Thần thông diệu dụng là những giá trị lợi ích đặc thù của người tu tập theo những pháp môn nhất định. Ngày xưa, Đức Phật và những vị thánh đệ tử của Ngài đều có được sáu loại thần thông, gọi là Lục thông.
Những nhà ngoại đạo tu tiên cũng có thể đạt tới năm loại thần thông trong số sáu thần thông mà Phật đã chứng đắc, gọi là Ngũ thông. Tuy chỉ có năm hay sáu thần thông, nhưng kỳ thực, những thần thông ấy có vô số diệu dụng không thể nghĩ bàn.
Về sáu loại thần thông của Phật pháp gồm có:
1.Thiên nhãn thông, là năng lực nhìn không bị chướng ngại, không bị giới hạn bởi không gian, không bị giới hạn bởi kích thước của vật thể, có khả năng thấy được những sự vật hiện tượng mà mắt thường không thể nhìn thấy được.
2.Thiên nhĩ thông, là năng lực nghe không bị chướng ngại, không bị giới hạn bởi không gian và cường độ của âm thanh, có thể nghe được những âm thanh mà khả năng con người không nghe thấy được;
3.Tha tâm thông, là năng lực hiểu được suy nghĩ người khác;
4.Thần túc thông, là năng lực tới lui vô ngại, có thể bay trên không trung, du hành dưới nước, đi trong lòng đất, xuyên qua núi non, biến hóa ra thiên hình vạn trạng…;
5.Túc mạng thông, là năng lực thấy rõ quá khứ nhiều đời nhiều kiếp; và
6.Lậu tận thông, là năng lực siêu xuất Tam giới, tự tại giải thoát, không bị khổ đau chi phối, hiểu rõ bản chất của đời sống, quy luật của vũ trụ…
image
Tuy nhiên, thần thông cũng có những giới hạn nhất định. Đức Phật không khuyến khích các đệ tử tu luyện thần thông; đôi khi, Ngài còn khiển trách những ai tùy tiện sử dụng thần thông khi không cần thiết. Thần thông là kết quả tự nhiên sau một quá trình dụng công tu tập, nhưng thần công, trừ Lậu tận thông, không đưa ai an lạc giải thoát. Có được năm thần thông trước là có những khả năng phi thường mà con người bình thường không có được; nhưng nếu còn vô minh thì vẫn bị phiền não tác động và vẫn còn khổ đau, vẫn còn luân hồi trong sinh tử. Chỉ có trí tuệ mới giúp con người thoát khỏi phiền não khổ đau; vì thế, cần phải tu tập để giác ngộ, khổ, tu tập vì sự nghiệp trí tuệ. Trong quá trình tu tập, đôi khi thần thông gây trở ngại cho sự giác ngộ giải thoát; và nếu không khéo tu tập mà còn tham đắm chấp trước thì thần thông trở thành một trong những pháp chướng đạo. Trong những loại thần thông kể trên thì Lậu tận thông là thần thông cao bậc; chỉ có Phật và các bậc Thánh đã chứng A-la-hán quả mới đạt được. Và đây chính là thần thông cần thiết cho người cầu giác ngộ, giải thoát.
Có lần một tu sĩ ngoại đạo biểu diển thần thông đi trên mặt nước và thách thức Đức Phật thi triển thần thông như ông ta. Đức Phật ôn tồn hỏi, “Ông tu luyện bao lâu mới có được thần thông ấy?”.Vị tu sĩ ngoại đạo kiêu hãnh trã lời, “Mất ba mươi năm”. Đức Phật mỉm cười, “Ta chỉ cần có ba xu tiền đi đò là có thể qua được bờ bên kia”.
Đức Phật dạy các đệ tử, nên dùng “Giáo hóa thần thông”, nghĩa là lấy thần giáo và khẩu giáo, lấy hành động làm tấm gương sáng về đạo đức và những lời thuyết pháp, để hóa chúng sinh, mà không nên dùng các loại thần thông khác; vì chỉ có Giáo hóa thần thông mới đưa đến con đường an lạc giải thoát. Năm loại thần thông đầu, gồm Thiên nhãn thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhĩ thông, Thần túc thông, thường mê hoặc con người, khiến cho con người chấp trước, tham cầu, mê đắm và dễ sa chân vào con đường bất chánh. Đặc biệt, những kẻ còn  vô minh, bị dẫn dắt bởi nghiệp lực và phiền não lậu hoặc, sẽ sử dụng thần thông phục vụ mục đích xấu. Trong lịch sử, chỉ một số rất ít trường hợp Đức Phật cho phép sử dụng thần thông, đó là khi nào phải đối phó với ngoại đạo có sử dụng thần thông; ví dụ như trường hợp Đức đạo có sử dụng thần thông hàng phục ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (Uruvela Kassapa) và con độc long. Nhưng sau đó, Đức Phật chỉ dùng Giáo hóa thần thông để độ họ.
Ngày nay, những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng giống như phép màu mang lại cho con người những điều kỳ diệu. Ngồi một chổ không cần phải đi đâu, con người cũng có thể nhìn thấy hình ảnh, nghe được âm thanh khắp nơi trên thế giới, có thể giao tiếp với nhau dù đang ở hai nơi xa xôi bất kỳ trên trái đất. Con người có thể bay lên không trung, bay vào vũ trụ, đi trong lòng đất, du hành dưới đáy biển, trong lòng đại dương. Con người không phải mất nhiều thời gian để đi lại từ nơi này đến nơi khác… Tuy nhiên, cũng như thần thông không mang lại giá trị an lạc hạnh phúc, giải thoát những khổ đau khi con người còn chưa dứt trừ vô mình, còn bị lôi kéo bởi phiền não lậu hoặc; những phương tiện hiện đại, những tiện nghi của đời sống cũng không mang lại hạnh phúc cho con người khi con người còn quá nhiều ham muốn, dục vọng, còn sân hận si mê… nói chung là vô minh phiền não lậu hoặc. Hễ còn vô mình phiền não lậu hoặc thì vẫn còn khổ đau. Với ngã ái, chấp thủ, càng đạt được nhiều thành tựu trong khoa học, trong đời sống, con người càng kiêu căng tự phụ, bản ngã càng to lớn, và những thành tựu đó vô tình nuôi dưỡng, thúc đẩy tham vọng của con người ngày một phát triền thêm. Con người luôn muốn thỏa mãn cái tôi ích kỷ, thỏa mãn tham vọng mà tự tao cái khổ cho mình và cho chúng sinh khác. Chưa bao giờ thế giới vắng bóng chiến tranh, chưa bao giờ có một nên hòa bình toàn cầu; con người luôn sống trong mâu thuẫn, xung đột, luôn sống trong hận thù nghi kỵ; luôn mang tham vọng bành trướng; luôn tìm cách chiếm đoạt, sở hữu để dung dưỡng cái tôi ích kỷ; con người luôn bị dẫn dắt bởi ngã và ngã sở, tôi và cái của tôi, bản thân tôi, gia đình tôi, tài sản tôi, sự nghiệp tôi, dân tộc tôi, quốc gia tôi, quan điểm của tôi, học thuyết của tôi, chủ nghĩa của tôi…
Con người say mê những thành tựu khoa học kỹ thuật và sử dụng chúng để phục vụ cho bản ngã, phục vụ cho những tham muốn, dục vọng của mình, và từ đó, con người hủy hoại hạnh phúc của mình và của nhân loại. Hoàn cảnh thế giới hiên tại  đã chứng minh điều đó. Nhân loại luôn sống trong bất an, lo sợ, luôn phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng; sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tình trạng ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, thiếu lương thực, nước uống, chiến tranh thế giới, nguy cơ bị hủy diệt vì hạt nhân…đang là những nỗi ám ảnh thường trực của loài người.
Con người quay cuồng với đời sống vật dục, say mê với các tiện nghi vật chất đến độ không biết đường đi lối về; mải chạy kiếm tìm những thứ có thể phục vụ cho ham muốn, dục vọng không tận cùng của mình; nhưng kết quả như người khác uống nước mặn không thể giải khát mà càng khát hơn; con người càng đắm chìm trong phiền não, khổ đau không cùng tận. Hàng ngày, những thông tin quảng cáo khơi gợi lòng ham muốn hưởng thụ, kích thích đam mê, khiến cho người ta không thể đánh giá đâu là nhu cầu thực sự, cứ mãi chạy theo lối sống đua đòi. Sự thúc dục phải kiếm cho được nhiều tiền để thỏa mãn những nhu cầu ảo, những tham muốn thụ hưởng, đã khiến cho con người lao tâm khổ trí, vất vả tấm thân, và tạo nên nhiều tội nghiệp. Đời sống quay cuồng khiến cho con người khổ não bất an trên nhiều phương tiện vật chất, càng nhiều tiện nghi trong sinh hoạt, đời sống con người sẽ có được sự thoải mái cả về vật chất lẫn tinh thần, mang lại niềm vui và hạnh phúc. Con người không thấy rằng chính những tham vọng vật chất đó đã làm con người đã bị trói buộc lại càng bị trói buộc hơn, niềm vui và hạnh phúc ngày càng xa vời hơn.
Vấn đề chỗ này có nhiều hay ít phương tiện vật chất thì đời sống con người có hạnh phúc hơn. Vấn đề là thái độ sống của con người như thế nào, con người làm chủ hay bị lệ thuộc vào nhưng phương tiện và tiện nghi đó; con người có biết cách ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật, những phương tiện vật chất, những tiện nghi của đời sống hiện đại vào mục đích mang lại an lạc, hạnh phúc cho mình hay không? Đó mới là điều quan trọng.

Share:

Cổ vật trong than đá chứng minh Thuyết tiến hóa là dối trá?

 Giáo dục nhà trường hiện nay căn bản đều chấp nhận thuyết tiến hóa giải thích nguồn gốc nhân loại với ý tưởng con người tiến hóa từ vượn cổ 4 triệu năm trước. Tuy nhiên, các phát hiện trong giới khoa học cùng nhiều bằng chứng khác cho thấy vấn đề không hề đơn giản.
Chiếc búa được hai vợ chồng Max Hahn và Emma tìm thấy vào Tháng 6/1936.
1. Lưỡi búa “thần thánh”
Tháng 6/ 1936, hai vợ chồng Max Hahn và Emma trong lúc leo núi gần khu vực một thác nước ở London (cũ) thuộc tiểu bang Texas, họ tìm thấy một tảng đá có cán gỗ xuyên qua. Thấy kỳ quặc, họ quyết định đem nó về nhà, tách tảng đá ra làm đôi và phát hiện một cây búa sắt cán gỗ bên trong. Sự kiện này đã gây chấn động cộng đồng khảo cổ và khoa học, vật được tìm thấy là một cây búa do con người tiền sử làm ra.
Các phân tích niên đại sau đó kết luận, tảng đá bọc bên ngoài cây búa có niên đại khoảng 400 triệu năm, còn độ tuổi của cây búa qua phân tích phóng xạ cho thấy niên đại lên đến hơn 500 triệu năm. Một phần của cán gỗ đã dần hóa thạch. Lưỡi búa được làm bằng sắc với độ tinh khiết lên đến 96%, thứ không thể tìm thấy trong thiên nhiên và thậm chí còn vượt qua công nghệ tinh luyện thép hiện nay.
2.Tượng người đất sét hơn 15 triệu tuổi
=""
Năm 1889, gần Nampa, Idaho, các công nhân trong lúc khoan giếng đã tìm thấy một tượng người nhỏ làm bằng đất sét nung ở độ sâu khoảng 100m. Để đạt đến độ sâu này, các công nhân đã phải đào xuyên qua 15m dung nham núi lửa và các lớp hóa thạch khác. Chuyện không có gì đáng nói đến khi người ta phát hiện ra lớp hóa thạch đã đào qua phía trên có độ tuổi ít nhất là 15 triệu năm.
Hiện nay, những người hoạt động trong ngành khoa học địa chất đều biết, than được hình thành từ xác động thực vật bị chôn vùi nhiều năm. Thảm động thực vật bị chôn vùi theo thời gian và được bao phủ bởi trầm tích, dần hóa thành than đá. Quá trình hình thành này phải mất đến 400 triệu năm.
Vật được tìm thấy chắc chắn đã xuất hiện trước và có niên đại xa xưa hơn lớp dung nham trên.
3. Pháp khí 300 triệu năm tuổi
=""
Năm 1944, Newton Anderson, một chú bé 10 tuổi, khi chơi dưới tầng hầm đã làm rơi một tảng than đá vỡ nứt làm đôi. Vật tìm thấy bên trong đã thách thức mọi giải thích khoa học chính thống hiện nay.
Bên trong khối than là một cái chuông có cáng cầm tay được làm bằng đồng thau với những nét điêu khắc vô cùng tinh xảo.
Sau khi đem đi phân tích, người ta tìm thấy chiếc chuông được chế tạo từ hỗn hợp kì lạ, bao gồm đồng, kẽm, thiếc, asen, i-ốt và selen, các loại vật liệu không giống với bất kỳ phương pháp chế tạo hiện đại nào ngày nay.
Và như trên đã nói, than đá là thứ chỉ hình thành qua hơn 300 triệu năm tuổi. Chiếc chuông này chắc chắn có niên đại lâu hơn.
Trên đây chỉ là một trong nhiều khám phá dị thường đã được phát hiện gần đây, đều bị âm thầm mang đi cất giữ tại tầng hầm các bảo tàng trên thế giới, dấu đi khỏi tầm nhìn của công chúng.
4. Dây chuyền vàng hơn 300 triệu năm tuổi
Tương tự một trường hợp khác ngày 11 /6/1891 ở Morrisonville, Illinois, theo một báo cáo cho biết bà Culp đã tìm thấy một xâu chuỗi tròn làm bằng vàng 8 cara, dài khoảng 25cm nằm kẹt trong một khối than đá. Xâu chuỗi này được gọi là “đồ cổ” hay “cổ vật”.
5. Chiếc nồi sắt hơn 300 triệu năm
=""
Hiện được trưng bày tại bảo tàng Glen Rose, Texas, nồi sắt đúc được một công nhân canh lò than nhà máy điện tìm thấy trong một khối than lớn năm 1912 . Khi người này đập vỡ khối than làm hai thì chiếc nồi sắt rơi ra để lại vết hằn bên trong.
Vô vàn các trường hợp khác đã được công bố hoặc chưa.
Khoa học thường thức hiện nay cho rằng những đồ vật trên “không nên tồn tại” vì nó đi ngược với nhận thức hiện hành về nguồn gốc và lịch sử loài người. Họ gọi chúng với những cái tên như “không có chỗ đứng”, “nghịch lý” và tìm cách đưa chúng xa khỏi tầm hiểu biết của công chúng.
Khoa học hiện nay khi đối diện với vấn đề thường đưa ra hai giải pháp, một là cố gắng chứng minh làm sáng tỏ vấn đề, hoặc nếu không làm được điều thứ nhất thì họ đi theo hướng ngược lại là cố làm mất tính chính thống của sự kiện, tấn công vào tính khả tín của khoa học gia, phóng viên để chôn vùi những phát hiện vào bảo tàng, tìm cách để không cho chúng xuất hiện rõ ràng trước công luận lần nữa.
Vì nếu không đưa ra được kết luận khoa học cho sự kiện, các khoa học gia hẳn sẽ rất “bẽ mặt”. Họ thường đánh đổ những sự kiện phát hiện trên với các tiêu đề như “lừa đảo” hay “báo cáo sai sự thật”, mục đích có lẽ là để giữ thể diện.
Nói cách khác, khi một lý thuyết vốn được dùng để làm nền tảng cho mọi nghiên cứu phát triển khoa học khác, thì sự sụp đổ của lý thuyết này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của cả một hệ thống tri thức khoa học, tác động quá lớn vào niềm tin của con người đối với khoa học, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi tầng lớp, mọi quốc gia. Đó có thể chính là cái giá của sự thật. Nhưng cái giá quá đắt này liệu có ai đủ dũng khí để chi trả.
Điều này đặt ra một vấn đề khác khiến chúng ta cần phải suy nghĩ, hệ thống khoa học được hình thành trên nền tảng móc nối giữa các lý thuyết khoa học; vậy thử đặt giả thuyết, nếu một mắc xích trong đó được chứng minh là sai thì chẳng phải cả hệ thống đó sẽ bị ảnh hưởng, và nhiều thứ phải bắt đầu lại. Điều này cho thấy những hạn chế của khoa học thực chứng bởi chúng phải đối mặt với quá nhiều rủi ro cùng những xác suất. Và sự thật là con người đặt rất nhiều niềm tin vào khoa học và luôn cả những rủi ro này.
Tuy nhiên, khi ngày càng nhiều những phát hiện tương tự xảy đến thì trong công chúng sẽ manh nha những hoài nghi, sự thật vẫn là sự thật và nó không thể mãi bị che dấu.
Thế nhưng hiện nay chúng ta vẫn phải chấp nhận một hiện thực rằng, dù các tri thức giáo khoa đã trở nên cũ kỹ và đầy hoài nghi khi các phát hiện như trên được đề cập đến, thì chúng vẫn được rao giảng không ngừng tại các lớp học, mà bất cứ ý kiến nghi hoặc nào đưa ra cũng sẽ rơi vào sự kì thị.
Đôi khi một số nhà khoa học chân chính sẽ cố gắng làm sáng tỏ sự thật về những gì được phát hiện. Tuy nhiên, họ sẽ gặp phải chỉ trích và quay lưng từ đồng nghiệp, dẫn đến sự nghiệp cũng nhanh chóng bị kết thúc theo.
Trở lại vấn đề Darwin và thuyết tiến hóa, ông cho rằng nhân loại tiến hóa từ vượn, rồi thành người tối cổ, bắt đầu từ khoảng 4 triệu năm trước đây, và phát triển cho đến ngày nay, có trí tuệ thông minh, biết lao động sản xuất. Nhiều giáo đồ của Darwin có thể đưa ra các bằng chứng như “tiến hóa ý thức hệ”, các bộ xương loài…
Ở phía đối lập, các tôn giáo giảng rằng đấng tối cao tạo ra mọi thứ trên Trái đất đã từ rất lâu. Họ không có nhiều bằng chứng ngoài kinh sách ra và những câu chuyện được truyền thừa qua nhiều thế hệ. Nhiều kinh sách qua các lần cải tổ, chiến tranh, thiên tai đã bị thất lạc, biên dịch sai, hoặc thêm thắt vào đó nhiều diễn giải cá nhân làm mọi thứ trở nên rắc rối. Tuy vậy, tất cả đều yêu cầu phải giữ vững “đức tin”, cái họ cần nhiều hơn là “bằng chứng”.
Sự thật về nguồn gốc loài người là một bí ẩn tổng quát. Chưa từng một ai, nơi nào, thực sự biết được nhân loại đã qua bao nhiêu tuổi và có nguồn gốc từ đâu. Một bí ẩn dường như tuyệt đối.
Theo Tinhhoa

Share:

Chữa trị các bênh đau đầu bằng Yoga mật chú chữa bệnh và bằng Yoga thông thường .


Trong bài này trình bày các loại bệnh đau đầu thường gặp loại trừ bênh đau đầu Migraine đã được trình bày trong một bài riêng biệt.
I.Đau đầu dạng căng thẳng.
1. Khái niệm vễ bệnh đau đầu dạng căng thẳng .Bệnh đau đầu dạng căng thẳng còn gọi là đau đầu căng cơ hay đau đầu tâm lý . Đây là một dạng đau đầu thường gặp nhất. Nó chiếm tỉ lệ từ 60-90% trong bệnh lý đau đầu. Bệnh lý này thường khởi phát theo sau giai đoạn bị kích thích hoặc căng thẳng tâm lý, mệt mỏi, hoặc trầm cảm.Loại bệnh này thường đau ở hai bên đầu, đau thường xuyên, không có cảm giác đập theo mạch nẩy. Cảm giác căng hoặc siết chặt ở các cơ vùng đầu và cổ. Đau đầu kiểu bị nén ép hoặc ê ẩm ở đầu, tăng nhạy cảm đau xung quanh đầu. Đau thường lan tỏa khắp đầu. Thường khó chịu nhất ở phần sau đầu (vùng chẩm) và vùng cổ. Đau đầu thường nặng hơn khi kèm theo stress, mệt mỏi, tiếng ồn, hoặc vào cuối ngày. Có hai dạng đau đầu căng thẳng thường gặp. Đó là dạng đau thành cơn với đặc tính cơn xuất hiện ngẫu nhiên, thỉnh thoảng, và dạng đau mãn tính với biểu hiện đau đầu hơn 15 ngày trong 1 tháng và kéo dài hơn 3 tháng liên tục.
Migraine và đau đầu dạng căng cơ từng cơn từ lâu được coi là hai bệnh lý riêng biệt. Tuy nhiên, một số bác sĩ lâm sàng và dịch tễ học cho rằng migraine và đau đầu dạng căng thẳng là các bệnh lý có liên quan với nhau và chỉ khác nhau ở độ nặng hơn là ở thể loại. Cả migraine và đau đầu dạng căng thẳng đều có thể là những cơn đau đầu lành tính tái diễn. Đa số các bệnh nhân migraine (62%) cũng có đau đầu dạng căng thẳng và 25% bệnh nhân đau đầu dạng căng thẳng cũng có migraine. Một cơn đau đầu migraine có thể khởi phát như đau đầu dạng căng thẳng rồi sau đó mới phát triển thêm các đặc tính của migraine khi mức độ đau tăng lên.
Chứng đau đầu làm ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt và công việc thường ngày của người bệnh. Nó làm giảm đi hiệu suất công việc, giảm khả năng tập trung. Trong cơn đau, người bệnh dễ bị cáu gắt, bực bội, sây sẩm kéo dài, mệt mỏi, ăn uống không ngon miệng. Đau đầu căng thẳng mạn tính có thể dẫn đến rối loạn giấc ngủ, sụt cân, suy giảm khả năng tập trung.
2. Cơ chế của bệnh đau đầu dạng căng thẳng.
Trước đây, nguyên nhân của đau đầu căng thẳng được lý giải là do tình trạng gia tăng sự co thắt của các nhóm cơ ở đầu. Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định rằng chứng đau đầu này không liên quan trực tiếp đến sự co cơ, mà nguyên nhân chình là do sự thay đổi bất thường của ngưỡng nhạy cảm đau ở các tế bào neuron thần kinh cảm giác.Đau đầu xuất hiện khi các cấu trúc cảm nhận đau ở đầu bị kích thích. Chúng được phận bố nhiều ở màng não, hệ thống mạch máu não, cấu trúc da và các cơ bám da đầu.
Nghiên cứu gần đây của cơ chế nitric oxide (NO ) cho thấy NO có thể đóng một vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh của đau đầu dạng căng thẳng . Sự nhạy cảm đau có thể được gây ra bởi (hoặc liên quan đến) sự hoạt hóa của enzym tổng hợp nitric oxide ( NOS) và sự sản sinh ra NO. Cơ chế bệnh sinh có liên quan đến sự kích thích của các tế bào thần kinh trung ương đặc biệt là các nhân của dây thần kinh sinh ba,đồi thị và vỏ não.
Các yếu tố cảm xúc, stress và căng thẳng về tinh thần có liên quan mật thiết với chứng đau đầu căng thẳng. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các stress tâm lý làm khởi phát đau đầu căng thẳng và các liệu pháp tâm lý thư giãn giúp làm dịu bớt cơn đau đầu. Sự lo âu và trầm cảm làm giảm đi khả năng chịu đựng đau của bệnh nhân, do đó họ rất dễ có cảm giác đau đầu.
3. Hóa giải bệnh đau đầu do căng thẳng bằng Yoga mật chú chữa bệnh.
Dùng mật chú gọi siêu quang hoặc Phật quang thực hiên các tác động sau.
- Thanh lọc toàn bộ cơ thể.
- Thanh lọc can (gan ) và tâm (tim ) Nếu can dương khí và tâm dương khí cao,tác động vào can tăng cường can âm khí, tác động vào tâm tăng cường tâm âm khí.
- Thanh lọc hóa giải bệnh tất cả các cơ vùng chẩm,vùng thái dương, các cơ quanh hốc mắt .
- Tác động vào tất cả các mạch máu của não bộ ,hóa giải bệnh , hóa giải viêm nhiễm ở các mạch máu, ức chế sự dãn mạch.Tập trung chú vào các mạch máu chẩm, vùng thái dương và vùng gần hai hốc mắt.
- Thanh lọc não bộ và các dây thần kinh não bộ.Hóa giải bệnh , hóa giải viêm nhiễm ở não và các dây thần kinh não .
- Thanh lọc, hóa giải bệnh, hóa giải viêm nhiễm ở các dây thần kinh vùng chẩm, dây thần kinh sinh ba và các dây thần kinh quanh hốc mắt.
II. Đau đầu từng chuỗi.
1. Khái niệm về đau đầu chuỗi. Đây Là một loại đau đầu gặp chủ yếu ở nam giới tuổi trung niên và phần lớn là có hút thuốc. Các cơn đau xuất hiện sau khi ngủ từ 1 đến 3 giờ và khi tỉnh dậy, bệnh nhân đã thấy đau đầu nặng. Các cơn đau hay tái phát, ngày có thể đau nhiều lần và kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần liền. Cơn đau chỉ khu trú ở một nửa đầu, đau nhiều ở sau mắt lan ra trán và thái dương, cảm giác đau ở sâu và không đập theo nhịp mạch. Có thể kèm theo các triệu chứng như mặt nề, chảy nước mắt, ngạt mũi, chảy nước mũi, ra nhiều mồ hôi, sa mí mắt và co đồng tử cùng bên, không buồn nôn và nôn.
2. Cơ chế đau đầu chuỗi.
a. Thuyết mạch máu.Theo lịch sử, cũng như đau đầu Migraine ,đau đầu chuỗi đã được phân loại là đau đầu do mạch máu . Trong nhiều thập kỷ , người ta cho là cơn đau dữ dội xảy ra do sự giãn nở của các mạch máu, tạo ra áp lực lên các dây thần kinh sinh ba . Thuyết này được cho là nguyên nhân trực tiếp của đau đầu,tuy vậy bệnh căn vẫn chưa được hiểu đầy đủ và đau đầu chuỗi vẫn là một đối tượng nghiên cứu và tranh luận .
b. Thuyết rối loạn chức năng vùng dưới đồi .
Lý thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là đau đầu chuỗi xảy ra do rối loạn chức năng của vùng dưới đồi. Giáo sư Peter Goadsby , một chuyên gia Úc về bệnh học đã phát triển lý thuyết này . Điều này có thể giải thích tại sao nhức đầu chuỗi thường xuyên có thể tấn công vào cùng thời điểm mỗi ngày , và trong một mùa cụ thể . Một trong những chức năng vùng dưới đồi là điều chỉnh đồng hồ sinh học . Vùng dưới đồi nhạy cảm với ánh sang và rất nhiều các kích thích khác : các kích thích khứu giác, bao gồm steroid sinh dục và corticosteroid ;thông tin dẫn truyền bằng thần kinh đặc biệt là từ tim, dạ dày và hệ thống sinh sản; các tín hiệu vào mang tính khu vực; các kích thích phát sinh ở đường máu bao gồm leptin, ghrelin, angiotensin, insulin, các hóc môn tuyến yên, các cytokine, nồng độ glucose trong huyết tương máu, độ thẩm thấu và cuối cùng là stress.Polypeptide trong mạch máu ruột ( Vasointestinal polypeptide, VIP), chất P và calcitonin peptide liên quan đến gen cũng có thể góp phần trong đau đầu chuỗi . Những sự nhạy cảm đặc biệt này có thể là nguyên nhân căn bản hoặc làm khởi phát đau đầu chuỗi .
3. Hóa giải bệnh đau đầu chuỗi bằng Yoga mật chú chữa bệnh.
-Thanh lọc toàn bộ cơ thể.
-Thanh lọc và tác động vào tất cả các mạch máu của não bộ ,hóa giải bệnh , hóa giải viêm nhiễm ở các mạch máu, ức chế sự dãn mạch.Tập trung chú ý vào các mạch máu vùng gần hai hốc mắt và vùng thái dương .
-Thanh lọc não bộ và các dây thần kinh não bộ.Hóa giải bệnh , hóa giải viêm nhiễm ở não và các dây thần kinh não . Tập trung chú ý vào vùng dưới đồi.
-Thanh lọc, hóa giải bệnh, hóa giải viêm nhiễm ở các dây thần kinh sinh ba và các dây thần kinh quanh hốc mắt.
III. Đau đầu kèm theo các bệnh mạch máu.
1.Đau đầu do thiểu năng tuần hoàn máu não.
a.Khái niệm về bệnh. Với loại đau đầu này, người bệnh thấy đau sau gáy, vùng chẩm, đôi khi đau âm ỉ hoặc từng cơn lan lên nửa bên đầu. Đau có kèm theo chóng mặt và rối loạn thăng bằng, cảm giác lảo đảo thoáng qua hoặc xoay tròn kiểu rối loạn tiền đình. Các cảm giác trên có thể thoáng qua hoặc tăng lên khi thay đổi tư thế và kéo dài nhiều giờ đến vài ngày. Cảm giác đau có thể tự hết hoặc mất đi khi dùng thuốc chữa triệu chứng . Đau đầu cũng có thể kèm theo rối loạn vận nhãn, nhìn đôi, nhìn sang hai bên mờ hoặc có ám điểm kéo dài trong vài giây vài phút. Các triệu chứng này xảy ra đột ngột khi từ nằm chuyển sang ngồi hoặc đứng. Có thể gặp ảo thị. Ngoài ra còn có thể có các rối loạn vận động, cảm giác hai chân như bị lấy đi đột ngột, không chóng mặt, không rối loạn ý thức, xảy ra khi ngửa đầu hoặc quay đầu đột ngột, gây thiếu máu thoảng qua ở cột tháp vùng hành não. Một số triệu chứng khác có thể gặp như ù tai, giảm thính lực một bên hoặc hai bên thoáng qua. Rung giật nhãn cầu, hội chứng tiền đình, chóng mặt buồn nôn và nôn…
b. Nguyên nhân bệnh.
Não được nuôi dưỡng bởi hai hệ động mạch chính: hệ động mạch cảnh ở phía trước chi phối toàn bộ phần lớn bán cầu đại não và hệ động mạch đốt sống thân nền ở phía sau. Hệ cảnh có tuần hoàn bàng hệ phong phú nên khả năng bù trừ tương đối tốt, ít có biểu hiện triệu chứng của thiểu năng tuần hoàn não hệ cảnh. Các triệu chứng của thiểu năng tuần hoàn não hay gặp biểu hiện của hệ động mạch đốt sống thân nền vì cung lượng máu đến động mạch đốt sống chỉ bằng 10% cung lượng máu đến động mạch cảnh và vận tốc lưu thông ở đây cũng kém hơn. Thiểu năng tuần hoàn não hệ động mạch đốt sống thân nền là một bệnh rất hay gặp ở lứa tuổi trên 50. Nguyên nhân hay gặp nhất là do vữa xơ động mạch. Vữa xơ động mạch khu trú tại nơi xuất phát của động mạch não sau hoặc chỗ phân đôi của các động mạch, đoạn cuối động mạch đốt sống. Khi gặp các yếu tố kết hợp khác như huyết áp động mạch thấp sẽ có những biểu hiện của triệu chứng thiểu năng tuần hoàn não. Một nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn động mạch đốt sống thân nền đó là tình trạng thoái hoá cột sống cổ, tuỳ mức độ thoái hoá khớp, mấu gai bên đốt sống gây chèn ép động mạch đốt sống. Đặc biệt một số động tác như quay đầu cổ đột ngột, hoặc gập cổ quá mức có thể chèn ép gây cản trở đường đi của động mạch đốt sống đối bên ở đoạn cổ (C1).
c. Hóa giải bệnh đau đầu do thiểu năng tuần hoàn não bằng Yoga mật chú chữa bệnh.
c1.Trường hợp do xơ vữa động mạch .
-Dùng siêu quang (paralight) tiêu hủy hoặc Phật quang (Buddalight) tiêu hủy các lớp xơ vữa ở động mạch đốt sống, các động mạch cảnh và các động mạch máu não, tập trung chú ý vào động đốt sống và động mạch não sau .
- Dùng siêu quang hoặc Phật quang thực hiện các tác động sau. Thanh lọc,hóa giải bệnh, tăng cường độ bền dẻo của các thành mạch ở động mạch đốt sống ,các động mạch cảnh và các động mạch máu não, tập trung chú ý vào động mạch đốt sống và động mạch não sau .
-Thanh lọc , hóa giải bệnh, phục hồi các chức năng đã bị tổn thương ở toàn bộ não bộ và các dây thần kinh não .
c2.Trường hợp thoái hóa các đốt sống cổ.
Dùng siêu quang hoặc Phật quang thực hiện các tác động sau. -Thanh lọc, hóa giải viêm nhiễm , hóa giải bệnh ở toàn bộ các đốt sống cổ và các dây thần kinh ở cổ. Phục hồi sụn khớp, màng khớp và các chức năng đã bị tổn thương ở các đốt sống cổ.
- Thanh lọc , hóa giả bệnh , hóa giải viêm nhiễm, phục hồi các chức năng đã bị tổn thương ở các động mạch đốt sống .
-Thanh lọc , hóa giải bệnh, phục hồi các chức năng đã bị tổn thương ở toàn bộ não bộ và các dây thần kinh não .
2. Đau đầu do xuất huyết não không do chấn thương.
a. Khái niệm về bệnh .Người ta phân biệt chảy máu nhu mô não và chảy máu dưới nhện .Chảy máu nhu mô thường hay gặp ở tuổi 45 - 50. Dấu hiệu bắt đầu là đau đầu nhiều, đau đột ngột hay xảy ra ban ngày sau một gắng sức thể lực, tinh thần. Bệnh nhân có biểu hiện của rối loạn ý thức, thường suy giảm ý thức nhanh chóng cho đến hôn mê. Đau đầu mức độ bình thường nhưng 70 - 80% bệnh nhân có nôn. Nhịp thở không đều, thở ngáy, mạch nhanh, huyết áp tăng.
Chảy máu dưới màng nhện thường gặp ở tuổi 20 - 40. Dấu hiệu bắt đầu là đau đầu thoáng qua; thường phát đột ngột kèm theo cảm thấy có cú đánh trong đầu, có biểu hiện thay đổi ý thức. Đau đầu thường không dữ dội, có thể có nôn (dưới 50%). Người bệnh thở kiểu cheynstokes ( gồm 3 thì, biên độ hơi thở tăng dần, biên độ thở giảm dần, ngưng thở một thời gian ngắn rồi lặp lại chu trình ).Mạch nhanh có khi tới 100 lần/phút. Nghe tim không thấy gì đặc biệt. Huyết áp có hoặc không đo được.
Biểu hiện thường gặp khi bị xuất huyết não.Khi xảy ra sự vỡ động mạch não, máu động mạch bị đẩy mạnh ra mô não ở xung quanh, thành ổ chảy máu đường kính thường lớn hơn 1,5cm ở thân não và hơn 3cm nếu ở đại não. Máu đông lại thành cục máu tụ, gây chèn ép những vùng não lân cận, làm hoại tử hoặc thiếu máu cục bộ, gây phù nề. Chảy máu não có thể lấn chiếm và choán chỗ những khu vực trống, dễ xâm nhập, có thể đến tận vùng nền não thất IV, nơi có nhiều trung tâm của các chức năng quan trọng cho sinh mạng.
b. Hóa giải bệnh đau đầu do xuất huyết não bằng Yoga mật chú chữa bệnh.
-Cầm máu . Dùng mật chú gọi siêu quang hoặc Phật quang tác động vào vùng tổn thương mạch hoặc vùng mạch chảy máu để cầm máu.
-Tiêu hủy khối máu tụ gây tắc mạch hoặc chèn ép các vùng não .
-Hóa giải viêm nhiễm, phục hồi các tổn thương ở các vùng não bị tổn thương.
-Hóa giải các nguyên nhân gây xuất huyết não.Tác động làm giảm huyết áp nếu nguyên nhân bệnh là do huyết áp cao (chiếm 50-60% ). Trong trường hợp chảy máu não do hồng cầu thấp chúng ta xem xét hai nguyên nhân làm giảm hông cầu.Nếu hông cầu thấp gây ra do các bệnh nhiễm trùng ( cúm , sởi, quai bị, viêm gan siêu vi, viêm đông mạch, viêm đa khớp ...),cần phải tác đông hóa giải các bệnh nhiễm trùng này. Khi hồng cầu thấp do các bệnh tủy sống (suy tủy, xơ tủy, ung thư tủy ),nhất thiết phải tác động hóa giải các bệnh tủy sống.
3.Đau đầu do viêm động mạch.
a. Khái niệm về bệnh.
Đau đầu tập trung ở vùng thái dương, thường là đau một bên, đôi khi cả hai bên . Cơn đau xuất hiện một cánh tự nhiên hay do một kích thích dù là rất nhẹ vào da đầu như chải đầu , đeo kính, gãi đầu.Đau có tính chất dai dẳng, tê buốt như kim châm. Đau tập trung ở vùng thái dương, có thể lan tỏa ra cả vùng trán, hốc mắt hoặc đỉnh chẩm cùng bên. Đau tăng lên khi lạnh, đau nhiều về đêm làm mất ngủ. Thỉnh thoảng có những cơn kịch pháp, dữ dội nhu khoan, như dùi ở vùng thái dương, làm cho bệnh nhân không chịu nổi phải ôm đầu, vật vã, kêu la. Cơn kịch phát có thể kéo dài 2-3 giờ, trung bình 1-2 cơn trong một ngày. Quan sát thấy vùng thái dương của người bệnh hơi sưng nề, da đỏ, đồng thời có cảm giác một đoạn mạch máu dày, cứng, ngoằn ngèo, mạch đập yếu hoặc không đập, ấn rất đau. Đây là biểu hiện của viêm đông mạch thái dương nông, tuy nhiên ở đầu ngoài động mạch thái dương bị tổn thương thì một số động mạch khác như động mạch mắt, động mạch chẩm, động mạch mặt cũng bị viêm làm cho bệnh nhân đau đớn nhiều. Tuy vậy viêm động mạch thái dương chỉ là trọng tâm khu trú của một bệnh viêm nhiều động mạch, bệnh Horton. Đây là bệnh viêm đông mạch toàn thân, trong đó 1/3 trường hợp là viêm đông mạch thái dương nông và các nhánh của động mạch cảnh ngoài.
Cùng với đau đầu ,bệnh Horton thường kèm theo nhiều rối loạn ở mắt. Các triệu chứng về mắt gặp nhiều là phù nề gai thị, tắc động mạch võng mạc trung tâm, nhìn đôi, thị trường thu hẹp, ám điểm trung tâm, đau hố mắt, sợ ánh sáng, lác mắt, mù thoảng qua, màn sương mù trước mắt, ảo thị, rối loạn thị trường... và cuối cùng là mù hẳn. Những biến chứng này có thể xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh, không hồi phục làm mất thị lực chỉ trong vòng vài giờ đến vài ngày nếu không được điều trị
Ngoài đau đầu và các rối loạn ở mắt, bênh Horton còn có những biểu hiện giả viêm đa khớp gốc chi, người bệnh đau nhiều khớp, đặc biệt là đau khớp vai hai bên, song không bị hạn chế vận động khớp. Bệnh còn một số triệu chứng khác như mất ngủ, chán ăn, gầy sút và sốt, đôi khi hâm hấp sốt, có khi sốt rất cao. Suy nhược, chán ăn, gầy sút.
Có nhiều giải thiết cho nguyên nhân gây bệnh. Horton và Frangenheim cho rằng bệnh do vi khuẩn đặc hiệu gây ra ,nên xếp nó vào nhóm bệnh u hạt nhiễm khuẩn (granulome infercteeusr).Zeek, Morrison Abithol cho là bệnh dị ứng quá mẫn. Gần đây, Sauerruch, Dorstelman cho là bệnh tự miễn. Có nhiều người ủng hộ thuyết cho là bệnh Horton có nguồn gốc của một bệnh tự miễn .
b. Hóa giải bệnh đau đầu do viêm động mạch bằng Yoga mật chú chữa bệnh.
Dùng mật chú gọi siêu quang (paralight) hoặc Phật quang (Buddalight) thực hiện các tác đông sau.-
-Thanh lọc toàn bộ cơ thể và các động mạch của cơ thể . Ức chế sản sinh ra các kháng thể tự miễn gây viêm ,hóa giải viêm nhiễm, tăng cường độ bền dẻo của các thành động mạch. Tập trung nhiều chú ý vào đông mạch thái dương nông, động mạch mắt, động mạch mặt và động mạch chẩm.
-Hóa giải viêm nhiễm , hóa giải bệnh ở mắt,võng mạc , gai thị,thần kinh mắt và các cơ vận mắt.
- Hóa giải viêm khớp ,viêm các dây thần kinh khớp ở các khớp vai và các khớp háng. Tập trung chú ý vào hai khớp vai.
IV. Hóa giải bệnh đau đầu bằng Yoga thông thường.
1.Các thế (Asanas) . Các thế thư giãn: xác chết(Shavasana), thế cao cấp (Jyestikasana,superior pose ),cá sấu (Makarasana, crocodile), cá bơi (Matsya Kridasana,flapping fish).Các thế tăng cường hoạt đông của các khớp: uốn cong các ngón chân (padanguli naman ),uốn cong cổ chân (goolf naman ), quay cổ chân (goolf chakra ),quay đầu gối (janu chakra ),nửa bướm (ardha titali asana ),quay hông (shroni chakra ), bướm (titali asana ),nắm tay (mushtika bandhana ), uốn cổ tay (Manibandha naman ) ,quay cổ tay (manibandha chakra ),uốn khửu tay (kehuni naman ),quay khớp vai (skandha chakra ), di động cổ (greeva sanchalana ). Cây dừa (Tadasana,palm tree pose),cây dừa nghiêng (Tiryaka Tadasana ), con thỏ (Shashankasana ), bán vặn cột sống (Ardhamatsyendrasana).
2. Kỹ thuật thở(Pranayama ). Thở làm sạch các đường dẫn năng lượng (Nadi Shodhana ),thở ong kêu (Bhramari), thở tâm lý (Ujjayi ),thở làm lạnh (Sheetali ).
3. Ngủ tâm lý (Yoga Nidra ).
Share:

CHỮA TÂM BỆNH BẰNG NLP & THÔI MIÊN


Trước năm 1950, các bác sĩ biết rằng Tâm trí (the Mind) chiếm hơn 50% nguyên nhân gây ra các loại bệnh tật. Ngày nay, nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng hơn 90% bệnh tật là do Tâm trí tạo ra (còn gọi là Tâm bệnh – Psychological Cause).
Con số 90% nói lên điều gì với quý độc giả? Giới Y khoa, giới Tâm lý Trị liệu…suy nghĩ như thế nào về phát hiện…gây tranh cãi này?
Lật lại những nghiên cứu khoa học & cùng điểm qua những “Tâm bệnh” mà nhân loại đang đối mặt:
-         Rối loạn stress sau chấn tâm lý (PTSD);
-         Bệnh trầm cảm (đặc biệt là phụ nữ);
-         Sự phân ly & tình trạng đa nhân cách;
-         Mất phương hướng trong cuộc sống;
-         Nghiện ngập (games, internet, rượu, thuốc, sex…);
-         Bệnh tự kỷ (Autism);
-         Rối loạn tăng động – Giảm chú ý (ADHD)
-         Khủng hoảng & Tự sát;
-         Bạo hành gia đình;
-         Bạo lực học đường.
Quý độc giả thân mến!
Nguyên nhân gốc rễ nào dẫn đến những bệnh tật do Tâm lý gây ra? Hãy điểm qua cơ chế hoạt động của Trí – Tâm  – Thân.
Tâm trí con người được chia ra thành 2 phần chính đó là Ý thức & Tiềm thức, “Ý thức” chỉ chiếm 10% năng lực của con người, được ví như là “Thuyền trưởng” của con tàu, “Tiềm thức” chiếm đến 90% năng lực của con người & được ví như là người “Thủy thủ” tận tụy, khi Thuyền trưởng ra lệnh cho Thủy thủ rẽ sang trái hay rẽ sang phải…, thì nhiệm vụ người Thủy thủ là tuân theo mệnh lệnh mà không có bất kì chính kiến hãy cãi lệnh “cấp trên”.
Điều này có nghĩa là, khi chúng ta suy nghĩ tiêu cực như than phiền, trách móc, lo lắng, trăn trở, bi oan, căng thẳng…, vô tình kích hoạt chức năng hoạt động của Tiềm thức, và nó chỉ có nhiệm vụ duy nhất là “thực thi” mà thôi.
clip_image003
Ngoài ra, quý độc giả có biết “Tiềm thức” còn có khả năng “kiểm soát những chức năng có liên quan đến cơ thể như hơi thở, tuần hoàn máu, tiêu hóa & bài tiết” – nguồn: self hypnosis and other mind expending techniques – trang 15 – Tác giả Charles Tebbetts.
Những nghiên cứu trên chứng minh cho quý độc giả điều gì? Có phải bệnh tật tự nhiên mà có hay “vô tình” tạo ra mà chính chúng ta vẫn không có ý thức về điều đó?
Đã đến lúc phải suy xét lại & tìm kiếm phương pháp mới để giải quyết những “Tâm bệnh” một cách dứt điểm. Bằng cách nào đây?
Khoa học NLP (Neuro Linguistic Programming) & Liệu pháp Thôi Miên (Hypno Therapy) là giải pháp hoàn hảo nhất của thế kỷ 21.
NLP là gì & lợi ích của nó ra sao?
-         NLP là môn khoa học & nghệ thuật nghiên cứu chiến lược thành công của những con người xuất chúng nhất trên hành tinh qua mọi thời đại (nhóm 0.7% trong số 7 tỉ dân), sáng lập bởi 2 giáo sư người Mỹ, Richard Bandler & John Grinder vào năm 1972;
-         Ngoài những Tâm bệnh như nêu phần trên, NLP còn có khả năng giải quyết những vấn đề khác như: tất cả những bất hòa trong mối quan hệ, sợ hãi/ám ảnh (sợ rắn, sợ chuột, sợ độ cao, sợ mất người thân, sợ chết…), cảm xúc tiêu cực (buồn, giận, hận thù, cái tôi xấu…), tạo hành vi/thói quen mới (tính kỷ luật, ăn uống điều độ, hoạt động thể chất, duy trì phong độ làm việc, cải thiện khả năng biểu diễn, thể hiện…).
clip_image004
Liệu pháp Thôi Miên là gì & lợi ích?
-        Thôi miên là môn khoa học đã ra đời hơn 2500 năm trước công nguyên, bắt nguồn từ Ai Cập;
-        Thôi miên có thể chữa khỏi những căn bệnh mà bằng tất cả các phương pháp khác đã bị pó tay – trích dẫn của James Braid (1975 – 1860) bậc thầy về ứng Liệu pháp Thôi miên trong trị liệu.
milton
Kết hợp Khoa học NLP & Thôi Miên, có thể chẩn đoán & trị liệu hầu hết tất cả các loại tâm bệnh như trình bày phần trên.
Ngoài tên gọi chung là NLP & Thôi Miên, trong nghề Trị liệu còn có tên gọi khác là nghề Tư vấn Trị liệu  (Therapeutic Coaching – TC), hay còn gọi là nghề Coaching.
Nghề Tư vấn Trị liệu (Coaching) có gì khác biệt & đột phá hơn so với nghề Tâm lý Trị liệu (Psychotherapy) mà các chuyên gia Tâm lý trị liệu trong & ngoài nước đang áp dụng?
tu-van-tri-lieu
Vì hạnh phúc viên mãn, bình an & an lạc trong cuộc sống, quý đọc giả hãy dành thời gian tìm hiểu thêm về Phương pháp Tư vấn Trị liệu đặc biệt này.
Share:

ĐÊM ĐÔNG


Đêm đông quạnh vắng mình đơn lẻ
Phòng trống đơn côi chốn xa xôi
Trằn trọc suy tư ngày khai hội
Nhung nhớ người xưa suốt canh dài

Lụa đào, yếm trải chốn thiên thai
Tịch cốc giờ đây vắng bóng hồng
Ngày vui há dễ mà trông ngóng
Thiên địa giao hòa vạn nẻo xa

Muôn kiếp ngàn đời với thi ca
Khoác áo thi nhân lấm bụi trần
Lãng tử phong sương trà đón khách
Đêm về lẻ bóng nhớ giai nhân

Mãnh tướng kiêu hùng nơi chiến trận
Nước mắt Vương phi đẫm giấc mơ
Tương tư hẹn ước ngày tao ngộ
Thiên lý tình xa hóa câu thơ.

Hien Nguyen 5.10pm ngày 12/1/2015
Share:

LIGHTWORKERS - SỰ THỨC TỈNH VÀ TRỞ VỀ NGUỒN


( Trích trong : Hồi ký "Hành trình đi tìm ánh sáng" của Hiền Nguyễn )

Tôi cảm thấy luôn có sự thôi thúc trong trái tim. Phải đi tìm kiếm điều gì đó rất mơ hồ, điều mà trong thế giới tâm linh gọi là chân lý...
Tôi hay chìm đắm suy tư trong các vấn đề về một xã hội phức tạp, đủ mọi thành phần giữa cái xấu và cái tốt đan xen. Đó là tiếng gọi nội tâm mà chắc hẳn các Sinh mệnh ánh sáng Lightworkers đều trải qua.

Suốt bao nhiêu năm tôi âm thầm tìm kiếm, âm thầm giải mã những bí mật được phát tiết ra từ chuỗi ADN trong cơ thể kích hoạt trí nhớ và nhiệm vụ của tôi. Các bạn có thấy mình đang như thế không các Lightworkers thân yêu ? Tôi tìm đọc nát hết sách về các tôn giáo của thư viện, tôi tìm kiếm những nhà sư kể cho họ nghe và mong muốn được giải đáp những vấn đề tôi đang cảm nhận. Nhưng tôi thật sự thất vọng, vì trong sách vở hay lời trò chuyện của các sư cũng chỉ là sách vở lý thuyết...nó chỉ giải thích được phần nào các câu chuyện của tôi. Còn rất..rất nhiều thứ nó thuộc về phạm trù vũ trụ của Thượng đế.

Thế rồi một ngày kia tôi tình cờ đọc 1 bài viết trong page Cộng đồng khoa học tâm linh. Oh..cái gì thế này, sao họ viết giống như cho mình vậy..tôi lao vào đọc ngấu nghiến tất cả các bài viết, cảm xúc dâng trào muốn rơi nước mắt. Thì ra đây là gia đình tôi, những người thân yêu đang tìm nhau để cùng chung tay viết lên một bản Thiên anh hùng ca sáng chói cho nhân loại.

Tôi vẫn nhớ như in Admin đã bất ngờ thế nào khi nghe những câu chuyện của tôi, và người đại diện cho cộng đồng ấy đã xuất hiện như trong câu chuyện cổ tích...ấn chứng từ Thượng đế, từ các Hội đồng minh sư về sự hội ngộ là những luồng năng lượng tuông xuống đỉnh đầu, mùi hương tỏa ngào ngạt, mùi hương quyến rũ mà chắc chắn chỉ có trong thế giới chư thiên, chư Phật mới có, nó không phải là nước hoa của trần gian cho dù có Channel 5 cũng không sánh bằng...

Hành trình tìm lại chính mình không hề đơn giản, bao nhiêu lần với bao nhiêu dấu hiệu được ấn chứng rõ ràng như 1+1=2 mà tôi vẫn bác bỏ, vẫn không muốn tin điều đó là sự thật. Nên tôi biết, các bạn Lightworkers đang được thức tỉnh, các bạn cũng như tôi ngày xưa...lần mò tìm kiếm, rồi bỏ qua. Nhưng chắc chắn một điều, các bạn không thể nào chối bỏ được thân phận vốn đã được khắc vào chuỗi ADN trước khi các bạn đến với thế giới này.

Tôi đã mất 7 năm để tìm kiếm, được dạy dỗ trong vô hình, tự nghiên cứu trong 3D...và thật sự hạnh phúc khi được là chính mình. Hạnh phúc khi được trở về nhà, được sống trong vòng tay yêu thương của bạn bè và người thân trong 3D và 5D. Cám ơn Thượng đế đã chiếu rọi ánh sáng, một cuộc sống quá nhiều ơn phước và ân sủng. Các Lightworkers thiên thần của tôi ơi ! Các em hãy tìm về với bản thể, đừng để bất cứ một chướng ngại nào phá vỡ mục đích của đời mình. Dù có là đánh trận trong năng lượng với thế giới bóng tối đi nữa các em hãy dũng cảm lên nhé, tất cả chúng ta là các chiến binh ánh sáng.

Tôi sẽ viết 1 bài về trận chiến ấy thế nào cho các em trong chương sau: "Nữ chiến binh với bàn tay ánh sáng tiêu diệt đội quân Thiên ma của bóng tối ra tro..." Đề tài này hấp dẫn, ly kỳ đó...đón xem Hiền Nguyễn viết gì nha. Chị sẽ đưa các em lên mây, nhưng cũng hạ cánh biết chiến đấu. Ai mà cứ muốn bay miết lên mây sẽ dễ bị bóng tối triệt tiêu khả năng, mất kết nối với nguồn, trở lại tệ hại hơn cả người thường và không bao giờ được trở về nhà trong kiếp này. Bài học phân cấp của Thượng đế rất rõ ràng : một là đi đúng đường tự phát huy và tìm về nguồn, hai là thi rớt ở lại lớp học miết không còn khả năng về tâm linh thì lấy đâu về nhà để tìm lại mình, đúng vậy không các bạn yêu quý?
Cầu mong ánh sáng Thượng đế soi rọi dẫn đường cho các bạn.
Với tất cả tình yêu và ánh sáng.
Hien Nguyen

Chào đón các bạn đến Blog xem nhiều bài viết về "Hành trình đi tìm ánh sáng" www.hiennguyenmaitreya.com




Share:

Translate