ORGONITE

Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015

             LẠC NHAU
Có những niềm đau, chẳng biết gọi tên
Chỉ là nỗi nhớ, tận cùng góc khuất
Trong thẳm sâu có nỗi niềm u uất
Muốn giữ chặt tay, sao nỡ vội buông?
Em chạnh lòng để bao dòng lệ tuông
Mình lạc mất nhau giữa chốn bụi trần
Phong sương, thân lấm lem vì số phận
Trách nhau chi, khi nhớ lời thề xưa?
Nước mắt em hóa thành những cơn mưa.
Khi nỗi nhớ trào dâng, tim lạc lối
Nén nỗi đau để vượt qua bóng tối
Chuyện chúng mình chiếu sáng cả màn đêm
Có 1 dòng sông nhỏ vẫn êm đềm
Cho khoảng cách kia, dường như nhỏ lại
Em chỉ biết anh đợi em nơi ấy
Bến đò tình đưa đến bến tình yêu

HN Maitreya, 9.09am ngày 02/3/2015

LUYỆN NHỊ XÁC THÂN (LINH HỒN HAY NGƯƠN THẦN)


( Bài đọc thêm của cấp 2- 3 TP-Tài liệu Cha dạy Đạo Cao Đài)

“Phương pháp tu luyện: Cấu đi lên hay NGHỊCH CHUYỂN =>theo SANH LỘ xuyên qua 9 khiếu => Tinh hoá KHÍ =>tạo Thánh Thai =>nuôi dưỡng =>tạo Kim Thân = Phật tử (trên Bàn thờ Hậu Thiên= phía dưói), trong mình (ức) => lên Nê hườn Cung =>ra Thiên môn về Niết Bàn.
Chúng tôi trình bày mục Nhị Xác Thân qua các lời dạy của Thầy nơi Thánh Ngôn Hiệp Tuyển và Đại Thừa Chơn Giáo.
Nơi trang 26, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy :
" Ngọc Đầu Sư khả tu truyền pháp, thuyết Đạo.
Kẻ nào trai giới đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng.
Chư Môn Đệ phải trai giới. Vì tại sao ?
Chẳng phải Thầy còn buộc theo cựu luật, song luật ấy rất nên qúy báu không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.
Thầy cắt nghĩa :
Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân. Một phàm gọi là corporel. Còn một thiêng liêng gọi là spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.
Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh Khí Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng.
Còn có Thần mà không có Tinh Khí thì khó hườn đặng Nhị Xác Thân.
Vậy ba món báu phải hiệp mới đặng.
Nó vẫn là chất, tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn Thần buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không khí ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.
Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.
Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết.
Nếu như các con còn ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng ?
Như rủi bị hườn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc “Nhân Tiên” thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.
Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.
Với Thánh giáo này, ngay từ buổi mới Khai Đạo, Thầy cũng đã dạy truyền pháp cho kẻ nào trai giới đặng 10 ngày trở lên và muốn luyện đạo phải trường trai mới đặng. Luyện đạo là luyện tam bửu Tinh Khí Thần để tạo một Nhị xác thân. Xác thân thứ hai thiêng liêng vô hình (périsprit) ngoài xác thân nhục thể hữu hình của chúng ta. Hơn nữa Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chương Tịnh Thất có định nghĩa là nhà thanh tịnh để cho các tín đồ vào mà tu luyện và ghi 8 điều lệ nghiêm chỉnh để tịnh viên phải tuân theo kỷ luật tịnh trường.
Người môn sanh Cao Đài cần tu luyện là mong giải thoát kiếp luân hồi đọa lạc trần ai khổ lụy này, mà đó chính là mục đích tối yếu của việc tu hành. Đức Thượng Đế mở Đạo Kỳ Ba để độ rỗi các bực nguyên căn còn sa đọa và Thầy hứa tái lập đời Thượng nguơn Thánh đức cho nhơn loại được hưởng sau Hội Long Hoa lọc thánh phân phàm.
Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, trang 173, Thầy dạy về Giới tửu (18.1.1927) Bính Dần, Thầy cũng nhắc lại về Nhị Xác Thân, như sau :
" Thầy nói cái Chơn Thần là Nhị xác thân các con, là khí chất (le sperme), nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là Vi Hộ ; nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con. Khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với khí, rồi mới đưa thấu đến Chơn Thần, hiệp một mà siêu phàm nhập thánh".
Như vậy, người tín đồ Cao Đài dầu ở chi phái nào siêng tu luyện là không sái chơn truyền của Thầy từ buổi sơ khai, miễn phải được bực Minh Sư truyền pháp, được Ơn Trên hướng dẫn. Nếu vào Đạo chỉ biết cúng kiến, tụng kinh mà không lo tu tâm dưỡng tánh, lập đức bồi công và luyện đạo để giải thoát linh hồn thì có ích gì . Miễn hành giả đừng dục vọng mong thành Tiên Phật, ham luyện đạo mà khinh thường việc làm công quả, trợ nghèo giúp khổ cho đồng bào, không lo tu tâm luyện tánh thì việc đắc đạo khó thành. Hành giả phải hành đủ tam công tức là công quả, công trình, công phu thì kết quả mới viên mãn. Ơn Trên thường bảo không có vị Tiên Phật nào thành được mà thiếu một trong Tam công.
Đại Thừa Chơn Giáo ở trang 178, Thầy có dạy về Nhị Xác thân :
" Ngoài cái giả thân này, còn một cái chơn-thân khác nữa. Chơn-thân ấy là chi? Là nhị xác thân vậy. Cái xác thân ấy mới vững bền muôn kiếp, sống mãi bằng Trời, không tử, không sanh, không thêm, không bớt. Luyện đặng cái chơn thân này thì trường sanh bất tử, khỏi chịu quả báo luân hồi, đời đời kiếp kiếp an hưởng vui chơi nơi Bồng-lai Tiên-cảnh. Ấy là Chơn Nhơn vậy
Thầy thấy người đời hằng lầm tưởng cái giả thân ( Nhơn thân) nầy tu luyện đặng cầu bất tử, trường sanh. Khờ lắm thay! Dại lắm thay! bởi câu-chấp mà sa mãi tội tình, trầm luân muôn kiếp. Cái xác thân nặng nề, nhơ bẩn thúi tha này còn ham hố làm chi? Cái điểm linh hồn bị mang xác thịt này chẳng khác như bị núi Thái Sơn dằn chận. Cái điểm linh hồn ngày nào bỏ đặng xác thân này thì chẳng khác chi để ghánh Thái Sơn xuống vậy.
Linh hồn ra khỏi xác thân này thì mừng vui khôn xiết, khoái lạc vô cùng. Những linh hồn còn nặng nghiệp quả tiền khiên phải chịu vâng theo Tạo Công sai khiến, mượn xác thịt lập công, trả rồi nghiệp quả. Những Phật Tiên ngày trước cũng dùng điểm linh quang giáng thế, mượn xác thịt mà luyện đạo. Lấy ngươn khí nguơn tinh hiệp cùng nguơn thần tạo nên Tiên Phật. Có nhị xác thân thì từ đó sấp sau mới là có thứ ngôi địa vị, chớ điểm linh quang là một cái yếng sáng mà thôi, nhưng cũng biết linh thông biến hóa."
Ở trang 149, Thầy cắt nghĩa hai chữ Tu Luyện như sau :
"Chữ TU là gì ?
Tu là bồi bổ tinh khí thần cho đầy đủ, đức tánh cho hoàn toàn, bỏ nhơn dục tầm đường Thiên Lý thuận mạng, giữ thanh tịnh ôn hòa, chỗ nào sứt mẻ hư hao thì tô bồi cho đầy đủ. Chữ LUYỆN là gì ?
Luyện là trau giồi cho sáng suốt hoàn toàn, giũa mài, rèn đúc cho trơn tru khéo léo.
Tu mà không luyện chẳng khác chi một cục sắt không rèn làm sao thành một món khí giới ? Luyện là RÈN, thì chẳng khác nào một cục sắt đó còn đương vô dụng. Luyện nó phải nướng cho nó cháy, rồi đập giũa, cạo, gọt, rèn, đúc mới thành cái khí giới. Người tu cũng thế.
Muốn cho huệ mạng tròn đầy sáng suốt thì cần phải phanh luyện, mài giũa ngày đêm cho thành Kim Thân, Phật Tử. Ấy là phương pháp tu luyện.
Các con khá biết rằng Thầy hằng nói: Thầy là các con, các con tức là Thầy. Có Thầy mới có các con, mà có các con rồi mới có chư Tiên, Phật, Thánh, Thần; thì người là "tiểu thiên địa". Điểm linh quang nào muốn tạo Phật tác Tiên cũng phải đầu thai vào thế giới hữu hình Vật Chất: Dầu cho một vị Đại La Thiên Đế giáng trần đây không tu luyện cũng khó mong trở lại.
Điểm LINH QUANG là gì ?
Là một cái yếng sáng mà thôi. Thái Cực là một "Khối Đại Linh Quang" chia ra, ban cho mỗi người một "điểm tiểu linh quang", khi đầu thai làm người. Đến chết điểm linh quang ấy quay về hiệp nhứt với "Đại Linh Quang".
Các con có rõ hai chữ THIÊNG LIÊNG chăng ?
Thiêng Liêng là nối tiếp theo. Hễ kẻ nào tu đắc đạo cũng phải chịu dưới luật riêng cơ pháp.
Trời ban cho mỗi người một điểm linh quang ( nguơn thần). Điểm linh quang ấy phải đầu thai xuống thế giái hữu hình vật chất nầy, mượn xác phàm tu luyện mới thành Tiên đắc Phật. Nhờ có cái xác phàm nầy mới thành Đạo, mà tạo Phật tác Tiên, tiêu diêu cảnh lạc. Tại sao vậy ?
Tại tuy có ngươn thần mà không có ngươn tinh, ngươn khí thì làm sao tạo thành Nhị xác thân ? Ngươn thần là dương , ngươn khí là âm. Đạo phải có âm dương mới sản xuất Anh Nhi tạo thành Xá Lợi.
Mượn cái xác phàm này mà lấy ngươn tinh: khí, huyết, rồi luyện ngươn tinh cho thành ngươn khí thì tinh Hậu Thiên trở lại Tiên Thiên.
Luyện ngươn khí là nuôi lấy ngươn thần cho sáng suốt. Dầu cho vị Phật Tiên nào cũng vậy, phải chịu đầu thai vào thế giới vật chất luyện cho thành Thánh Thai Phật Tử mới về ở thế giái hư linh, chớ đừng nói trong hàng Phật, Tiên đắc đạo mà không tu luyện theo pháp này, thì làm sao thành chánh quả!!!
Phép luyện đơn chẳng chi lạ. Hễ muốn tạo thành Thánh thai phải dụng công phu nghịch chuyển pháp luân thì thành Thánh”. ( Sưu tầm-Xin Vua Cha cho vào Pháp môn để giáo hóa thêm).

                                          Nói thêm: 
Như vậy, theo Vua Cha dạy Đạo Cao Đài, luyện Đạo chính là luyện Huyền công, trong đó có luyện Nhị Xác Nhân-tức là Linh hồn. Linh hồn chúng ta tại xác trần bị bao bọc bởi thể xác, và tinh thần, tạo ra thể vía của thể vía của linh hồn. Muốn xuất thần-hồn, thì phải luyện thân tâm, khai mở các huyệt đạo, làm cho thể vía của linh hồn tinh sạch bằng thân-tâm sạch, muốn thân tâm sạch, phải luyện Tinh-Khí-Thần, rồi đưa Thần-hay hồn mình xuất khiếu ra khỏi xác thể, hợp với chất khí Tiên Thiên là Thành Đạo, Đắc Đạo; đi học trên Vũ trụ, xuất hồn đi các cảnh, càng lên được cao, càng tốt, do tu luyện thân tâm tốt, thể trọc vía càng ít, thì linh hồn mình càng xuất được lên cao, đắc Thần tiên tại thế, sau này mãn thì cũng đắc chính cái tầng cảnh giới-tầng khí cao mình đã bay lên được. Muốn thoát được sinh tử luân hồi, thì phải bỏ được hệ thống các hình tư tưởng và thể vía trọc bám vào hồn mình, theo qui luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, do hết vía xấu, chỉ còn linh quang gốc, tức linh hồn chân chất nhất-lõi của tổ hợp hồn vía-hay nói gọn là vía không còn, chỉ còn hồn, thì sẽ thoát luân hồi, về thẳng Thượng giới, đắc ngôi vị Tiên Phật.

Học viên TP đến trình độ xuất hồn, đạt từ 3-7 thông-lên đến Kim Tự Tháp-hiền nhân nhập thế xây đời là Đắc đạo-tức là Thần Thánh Tiên Phật tại thế. Chỉ khác là chúng ta nói bằng ngôn ngữ khoa học và khoa học tâm linh hiện đại cho dễ hiểu hơn mà thôi.
TP luyện 7 cấp, theo các pháp khác là có cả Tinh-Khí-Thần-Thần hoàn hư; có cả Nội công-Ngoại Khí, Âm dương công, Thần công, Thần thông ngoại cảm-khai Nhãn và luyện Thất thông: Thiên Nhãn thông, Tha Tâm thông, Thần cảnh thông, Túc Mạng thông, Thiên Nhĩ thông, Lậu Tận thông-nhưng chúng ta khác Phật giáo còn có An Lạc Thông-tức Đĩnh ngộ Nhập thế xây dựng Thiên Đường-Niết bàn Tại thế.

Như thế là chúng ta tự hào là có đủ tinh hoa của Khí công, Luyện Đạo của các pháp môn, tôn giáo trước kia, không để mất tinh hoa Nhân loại. 

Thứ Tư, ngày 25 tháng 2 năm 2015

THỜ VUA CHA CAO MINH THƯỢNG ĐẾ


- Lễ Kính Ơn Cha (Thượng đế): Ngày 9/1 âl

                                                          LẬP BÀN THỜ

-Trên cao có dán hoặc dựng Thiên phù

-Dưới có 3 ngọn nến ( Lập hoặc không lập bát hương đều được-hoặc dùng trụ

                                                        Thiên phù màu đỏ-nền trắng




Cúng chay: Tùy tâm hàng ngày, hoặc vào ngày đầu tháng âm hoặc dương. Không

Người làm lễ phải ăn mặc nghiêm trang, thân thể sạch sẽ. Trong ngày lễ phải

ăn chay, kiêng sinh hoạt nam nữ.

Để hương xong, tay phải duỗi thẳng, đặt dọc trên trán, ngón tay cái chạm vào ấn

đường-giữa hai lông mày. Tay trái duỗi thẳng, để ngang, đặt vào ngực nơi tim, rồi


-Kính thỉnh Vua Cha Cao Minh Thượng Đế!

Hoặc:-Kính thỉnh Tòa Thánh Tiên Thiên, Tòa Thánh Hậu Thiên.

 (Hoặc nói gọn: kính thỉnh Cha-Mẫu và các thầy).

 -Khấn xong thì đọc bài: Kính ơn Cha.

 - Đọc xong thì quì lạy 9 lạy: Quì, chống gối, cúi đầu, rập đầu xuống sát đất,

hai tay đặt song song, úp xuống đất, để trước gối. Mỗi lần quì, ngẩng lên, lại đặt

tay vào ngực, như lễ trên, rồi lại rập đầu.

 Kinh Kính ơn Cha ( Thượng đế)

Trên đỉnh Trời cao chót vót!

Toà Bạch Ngọc Đài, Cha ngự Thiên Linh

Cha sinh muôn loài, Cha của muôn sinh

Hạnh phúc nào bằng Cha trao cho sự sống

Cha là Trời mênh mông lồng lộng

Cha là dòng máu hồng chảy mãi trong tim

Cha là ánh sáng ngọt ngào rất đỗi dịu êm

Đưa chúng con vào cuộc trường sinh bất tử

Cha là ngọn đèn muôn năm soi tỏ

Vạn kiếp chúng con đi như gió bên Người

Người là dòng sông nguyên khí sữa nuôi

Mật ngọt và đắng cay, Cha chở che nhẫn chịu

Võng Ngân Hà, Cha đan cho con, Mẹ địu

Trên vai Người lịch sử nối vạn triệu năm

Nụ hoa đời cho Hạ thế chỉ chăm

Công tưới ấy, Thiện Mỹ này Cha dạy

Trong Vũ trụ ngọn Nguyên Đăng bỏng cháy

Gieo bình minh đến khắp thế gian

Tạo giàu sang, nâng đỡ kẻ cơ hàn

Nuôi văn minh, sửa sang đời lạc hậu

Cha truyền cho ngọn nguồn tranh đấu

Sức sống vươn lên chân chính của muôn loài

Cha chở che, đùm bọc thủa hoài thai

Gieo mầm sống cho vạn đời nhân thế

Công ơn ấy làm sao đo đếm xuể

Khi sinh linh vạn giới bởi tay Người!

Ôm trọn vòng tay, Người-Vũ trụ, Người ơi!

Con -hạt cát trong tay Cha vĩ đại

Con xin dâng lên Đức Cha hiền mãi mãi

Linh hồn con-giọt ngọc của Cha

Tâm hồn con là một bông hoa

Dâng hương ngát lên vườn Thượng giới

Ánh mắt con như vạn lời hướng tới

Dâng lên Cha lời hát ngọt ngào

Đây hồn con như khí thanh tao

Rửa hết bụi hầu bên Cha ngự

Bao vật phẩm của thế gian các thứ

Con dâng lành cung chúc Cha thương

Và Cha ơi, trên mọi nẻo đường

Con cầu mong Cha thường nhắc việc

Giáng Thiên linh cho tỏ tường các kiếp

Phù nhân gian, phù thiện phù sinh

Diệt ác gian trọc hết lọc thanh

Cho thêm sức an lành cuộc sống

Đức phủ trùm là Trời biển rộng

Thượng Đế Cao Minh con xin kính thương Người!

 * * *

GIẢI THÍCH Ý NGHĨA

CAO MINH THƯỢNG ĐẾ-còn gọi là Đức Chúa Trời, Thánh Jehoval, thánh A-
La, Jàng, ông Trời, Bharman, Go, Diêu...-Là ngôi Trung Phương Thiên Linh

Bắc Đẩu Tử Vi Đại Đế-Chúa tể Vũ trụ-Đấng Đại toàn năng-Đại tổ Giáo chủ

Thiên Đạo-Đạo Trời; Cha của thần thánh tiên phật, chúng sinh, muôn loài. Là đấng

Tạo hóa, Vua trên Thiên Đình-nên gọi là Vua Cha.

Đến nay mới có Pháp môn Thiên Đạo chính thức gọi Người là Vua Cha-với

ngôi thờ Độc Thần muôn năm.

THIÊN PHÙ: Còn gọi là THIÊN LINH BẮC ĐẨU TINH PHÙ; tượng trưng cho

Thượng đế-và cũng là đại biểu hợp nhất cho Tam Toà Thiên Đạo-3 ngôi chính ( 3

vòng tròn: Cha-Mẹ-Các thần thánh)-và cũng là bản mệnh chúng ta, nên là biểu

Là một cây hình chữ thập, có 3 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn to ở giữa tượng

trưng cho Vũ trụ- Đạo-Đại Đồng-Đại Nguyên năng-Ngôi Vua Cha Thượng đế.

Vòng bên trái: tượng trưng cho Tòa thánh Tiên Thiên (Mẫu Vương quản). Vòng

bên phải: tượng trưng cho Tòa thánh Hậu Thiên (Đức Minh Vương Thiên Tôn

- 7 Sao Bắc Đẩu ( Tử vi đế tinh)-Trung tâm của vũ trụ (Thiên đường) cũng là nơi

Cha ngự-là quê hương của loài người, là nơi chúng ta đi về sau các kiếp luân hồi.

Đây là 7 trung tâm thần lực-tâm linh của Vũ trụ-chính là các Luân xa Vũ Trụ. Vũ

trụ-Thượng đế có 7 sao trung tâm năng lượng, thì con người cũng có 7 sao trung

tâm năng lượng-vậy Thiên Phù tượng trưng cho Thượng đế, cũng là tượng trưng

cho bản mệnh con người (tiểu vũ trụ) -Đây là phép thờ và phát hiện thần học

tuyệt diệu nhất của Thiên Đạo.

Số 7 còn tượng trưng cho 7 cảnh ở Trung giới, 7 đại huyệt (luân xa-trung tâm

năng lượng) của con người và vũ trụ, là chỗ dựa của linh hồn tại thể xác.

Cho nên số 7 này tượng trưng cho sinh mạng thọ toàn của con người ở Hạ giới.

Còn là 7 bộ kinh chính của Thiên Đạo: Thiên-Đạo-Giáo-Huấn-Luật-Lễ-Nhân.

-Thiên phù hợp nhất, tượng trưng cho Đấng Đại toàn năng Thượng đế-Vua

Cha sinh ra tất cả, nên nói thờ Thiên Phù là thờ trực tiếp Vua Cha. Chúng ta Thờ

độc thần là Vua Cha, còn các tòa, khấn tấu hay không thì tùy, kêu tận đến ai đều

-Thiên Phù là vật tối linh, được truyền phép linh thiêng trước khi sử dụng.

-Có thể dùng đeo ở ngực làm linh phù trấn tà ma. Đeo ở ngực cao 9, hoặc 18 cm.

-Cấm in trên trang phục. Màu nền trắng, tất cả các phần nổi màu đỏ. Màu đỏ hồng

ngọc, không đỏ đục hoặc đỏ chói, đỏ tía.

QUÌ LẠY 9 LẠY: Tượng trưng cho sự kính trọng 9 cảnh giới Thiên linh. Số 9

còn tượng trưng cho Trời, tượng trưng cho 9 phương Trời. Số 9 là số cao nhất

trong dãy số tự nhiên, là ngôi Cửu trùng-Thượng đế-Thiên tử, tượng trưng cho sự

bất tử của linh hồn, vũ trụ, Thượng đế. Số 9 còn là 9 hành tinh trong hệ mặt trời, 9

sao Bắc đẩu ( 7 vị Đại tinh quân cổ Phật, 2 vị Bồ tát). Cảnh giới thứ 9 là Thiên

Đường Thiên Đạo-Thiên Đình.

Về nguyên lý thờ Thượng đế: Không phải Cha bắt các con phải thờ mình, mà nguyên lý thế này: Hướng tâm về cõi Thượng-về Cha-tức quán ảnh tượng hoặc tư tưởng, thì sự phóng năng lượng nối dây lượng tử đã về thượng giới trong tâm can mình-cũng là linh hồn mình, bằng vô thức đã có sự nối dây với Thiên đình và Thượng giới, đây là một bí mật của Vũ trụ trong việc kết nối các cung trường lượng tử, cũng như việc tạo ra rồi phóng 96 ức Linh căn xuống trần rồi Cha Mẹ lại vất vả gieo đạo để đưa chúng trở về-tức là Hoàn nguyên về Gốc để cân bằng ngẫu lực Vũ trụ. Nên thờ Thượng đế vừa là cách khôn ngoan để Cha Mẹ độ trì, Thượng Thiên và Thiên đình, chư Thiên hỗ trợ, mà còn là cách để tăng năng lượng cho bản thể mình; sau khi mãn trần, thì anh muốn ước ở cung trường, thế giới nào, chắc rồi cũng phát tâm để về đến đó. Nay thời mới, Thiên đình sẽ phát nguyện cho các con nào thờ Cha theo cách mới này, sẽ được độ rỗi về quê, ít nhất là thấy Cha trong tương lai gần. Ngoài ra, các linh căn thờ Cha, sẽ được khai nhãn, nếu biết mặt, sẽ khai nhãn cho mà không nhất thiết phải tu tập nhiều. Vì tâm các bạn đã hoàn nguyên về Nguồn rồi

Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2015

THIÊN ĐỊA THI - HOA LONG THẾ KỶ MỚI

(Chúc Muôn Loài Vạn Vật Năm Mới Bình An - Hạnh Phúc)

THIÊN cơ trao tặng người hữu duyên
ĐỊA mãn khai hoa, ước nguyện thề
THI nhân đàm đạo xoay chuyển thế
HOA Long hội tụ đắc nhân sinh
LONG Pháp giáng trần cứu sinh linh
THẾ mới càn khôn biến muôn hình
KỶ nguyên vũ trụ đồng nhất thể
MỚI là Thiên Đạo xóa u minh.
     (Hien Nguyen. Giao thừa 2015)

THÁNH thần giáng xuống đón Xuân
ĐỨC hiền Thế giới đón mầm hoan ca
HỘI quần tiên chính chúng ta
TOÀN là căn số cao xa thế này…
CẦU cho Nhân loại đổi thay
THÁI hòa yên ấm muôn ngày vui hơn
BÌNH yên bốn bể nước non
THẾ kỷ ánh sáng người tròn chữ Nhân
GIỚI định tu luyện cân phân
TRÊN cao soi sáng Đạo trần thời nay
THIÊN thời đại lợi Tâm chay
ĐÌNH đền thần thánh về này cũng ta
CHÚC cho thế giới một nhà
XUÂN hồng Long giáng Hoa hòa tình thương
    (Thiên Chủ)

THẦN thánh ca ngay bài Chúc Xuân
CHÀO đón Thế gian phút huy hoàng
THIÊN địa chuyển giao thời ánh sáng
CHỦ trì lịch sử sẽ sang trang
    (Hien Nguyen)

Mừng xuân mới Ất Mùi hội ngộ
Thiên Địa Nhân hợp nhất kỳ này
Luyện Công ra Quả mới tài
Thiền Thiên hợp nhất đón thời Hoàng Kim
Thánh Đức Hội quy căn trần thế
Hội Long Hoa Thánh bảng đã ghi
Ất Mùi tết đến xuân sang
Một năm thịnh vượng Đạo Trời hiển uy.
    (SH NTuan)

CHÚC sang năm mới chúc giàu sang
MỪNG nhau vạn sự mãi an khang
THIÊN định nhân duyên đều tốt đẹp
ĐẠO đời hai chữ vẹn song hành
GIÁNG thêm sức khỏe mừng "Xuân" mới
THẾ thời vững bước vẻ căng tràn...
    (Dung Tr)

CUNG Trời chuyển tiết xuân sang
CHÚC cho đại sự đạt thành đẹp tươi
TÂN niên vạn sự tốt lành
XUÂN đến minh triết tỏ soi con đường
QUẦN tụ Thánh địa nơi đây
THẦN Tiên tại thế xây đời lập công
QUY căn phụng sự cơ Trời
HỘI Long Hoa đó nơi này ta xây
    (KTy)

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 2 năm 2015

Hệ thống liên lạc liên thiên hà sử dụng năng lượng mặt trời

                                     [​IMG]


Trong tương lai, con người có thể liên lạc với nhau giữa các vì sao thông qua việc sử dụng một mạng truyền thông liên thiên hà khổng lồ hoạt động bằng năng lượng mặt trời. Mạng truyền thông này sẽ được lắp đặt ở vị trí cách mặt trời khoảng 550 đơn vị thiên văn (1 đơn vị thiên văn = 149,598,000km) tại một vị trí trong không gian mà nơi đó sóng ánh sáng bị bẻ cong bởi các thấu kính hấp dẫn. Tại điểm này, mạng truyền thông sẽ có nhiệm vụ khuếch đại các tín hiệu được truyền đi.

Ý tưởng về mạng truyền thông liên ngân hà sẽ có giá trị rất lớn cho ngành thám hiểm vũ trụ, với những chuyến đi xa ra khỏi hệ mặt trời của chúng ta. Đối với những chuyến thám hiểm có khoảng cách lớn hơn 10 tỉ km, tín hiệu radio sẽ bị nhiễu hoặc mất do chịu sự ảnh hưởng của bức xạ sóng vũ trụ. Đây cũng là lý do được nhiều nhà khoa học đưa ra để giải thích tại sao chúng ta không thể tiếp nhận được các tín hiệu giao tiếp của người ngoài hành tinh

Phần khó khăn của ý tưởng này là xây dựng mạng tiếp nhận thông tin. Ngoài mạng truyền thông được đặt tại vị trí 550 đơn vị thiên văn tính từ mặt trời, chúng ta phải xây dựng một mạng tiếp nhận tương tự ở nơi chúng ta muốn giao tiếp. Giả sử mạng tiếp nhận được đặt trong hệ thống chòm sao Alpha Centauri, người láng giềng gần nhất, thì khoảng cách cũng đã là 4.37 năm ánh sáng, chưa kể đoạn đường 749 đơn vị thiên văn tính từ chòm sao Alpha Centauri đến điểm lý tưởng để đặt mạng tiếp nhận. Những con số khổng lồ!

Ý tưởng về một mạng truyền thông liên ngân hà rất táo bạo và thú vị, tuy hiện tại nó đang gặp một số trở ngại về tính khả thi như đã nêu trên. Mặc dù vậy, một khi sự tiến bộ của công nghệ đủ để biến những điều không tưởng thành hiện thực, thì đây sẽ là một nền tảng quan trọng giúp con người tiến xa hơn vào vũ trụ!



Rối lượng tử hay vướng víu lượng tử là một hiệu ứng trong cơ học lượng tử trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Ví dụ, có thể tạo ra hai vật thể sao cho nếu quan sát thấy spin của vật thứ nhất quay xuống dưới, thì spin của vật kia sẽ phải quay lên trên, hoặc ngược lại; dù cho cơ học lượng tử không tiên đoán trước kết quả phép đo trên vật thứ nhất. Điều này nghĩa là phép đo thực hiện trên vật thể này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái lượng tử trên vật thể vướng víu lượng tử với nó.


Rối lượng tử là hiệu ứng được ứng dụng trong các công nghệ như tính toán lượng tử, mật mã lượng tử, viễn tải lượng tử. Hiệu ứng này, được khẳng định bởi quan sát thực nghiệm, cũng gây ra sự thay đổi nhận thức rằng thông tin về một vật thể chỉ có thể thay đổi bằng tương tác với các vật ngay gần nó.

Rối lượng tử thường được mô tả với hai photon có sự liên hệ với nhau, trạng thái của photon này quyết định trạng thái của photon kia. Nếu đo được trạng thái của một photon thì ngay lập tức sẽ biết được trạng thái của photon có liên hệ với nó. Điều này cũng có nghĩa là nếu ta buộc photon này có một trạng thái nào đó thì lập tức photon kia cũng có trạng thái tương ứng.

Sự liên hệ trạng thái giữa 2 photon chứng tỏ rằng giữa chúng có một quan hệ tương tác nào đó tuy nhiên tương tác này không phải là một trong bốn tương tác cơ bản như ta đã biết; mà là một hệ quả của các định luật cơ học lượng tử.



 Ứng dụng:

Rối lượng tử được ứng dụng vào công nghệ viễn tải lượng tử, dùng để vận chuyển thông tin cũng như vật chất. Trong kỹ thuật này, người ta tạo ra hai vật thể ở cách xa nhau và có vướng víu lượng tử với nhau. Sau đó thông tin về trạng thái lượng tử của vật thứ nhất được cố định, qua phép đo; dẫn đến thông tin này được truyền tải đến vật thứ hai. Phương pháp này không cho phép thông tin, ở dạng kèm theo vật chất, được di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng.



Bước đột phá trong vật lý lượng tử: chuyển thông tin tức thời


Thí nghiệm chuyển ánh sáng tức thời tại Đại học Quốc gia Australia.
Thông tin mã hóa được chuyển gần như tức thời từ nơi này đến nơi khác mà không cần đến một dòng chuyển động nào của các hạt cơ bản. Thí nghiệm đang gây chấn động thế giới, vì nó có thể mở ra một thời đại thông tin mới.

Nhà vật lý Australia gốc Trung Quốc Ping Koy Lam cùng cộng sự tại Đại học Quốc gia Australia ở Canberra (ANU) vừa thực hiện thành công thí nghiệm chuyển thông tin theo nguyên lý hoàn toàn mới dựa trên "tương tác ma quỷ" của các quang tử (photon). Đúng vào lúc một chùm laser chứa những dữ liệu thông tin nhất định bị hủy tại một vị trí trong phòng thí nghiệm, thì nhóm của Lam đã tạo ra một chùm laser khác giống hệt như thế tại một vị trí khác cách vị trí ban đầu 1 mét. Mặc dù chùm sáng không hề chuyển động từ điểm này đến điểm kia nhưng vì hai chùm sáng giống hệt nhau nên người quan sát có cảm tưởng rằng, chùm sáng đã được di chuyển tức thời từ điểm này đến điểm kia .
Các nhà khoa học gọi kỹ thuật này là sự "chuyên chở tức thời qua không gian xa cách" (teleportation) . Vì hai chùm sáng giống hệt nhau, tức là thông tin chứa trong chúng như nhau, nên kết quả thí nghiệm cho thấy: Thông tin đã được chuyển tức thời qua không gian mà không cần đến một dòng chuyển động nào của các hạt cơ bản. Đây là nguyên lý truyền thông tin hoàn toàn mới.

Thật vậy, trong liên mạng computer điện tử và trong sợi cáp quang hiện nay, thông tin hoặc được chuyển qua các mạch điện tử (tức là nhờ dòng chuyển động của electron), hoặc được truyền trong sợi cáp quang (tức là dòng chuyển động của các photon). Hai dạng truyền thông tin này, mặc dù đã rất nhanh, nhưng đều không thể so sánh được với tốc độ truyền tin tức thời trong thí nghiệm của ANU. Nguyên lý truyền tin này có hai ưu điểm vượt trội: tốc độ siêu nhanh và siêu an toàn (rất khó giải mã ngay cả trong trường hợp thông tin bị đánh cắp). Vì thế, thí nghiệm của ANU đang gây nên một chấn động trong giới khoa học, như tiếng chuông báo hiệu một thời đại thông tin mới sắp ra đời.

Thực ra, không phải các nhà khoa học Australia đã khám phá ra một nguyên lý hoàn toàn mới. Họ chỉ khai thác một hiện tượng vật lý đã được biết đến từ lâu, đó là hiện tượng "vướng lượng tử", hoặc "rối lượng tử" (quantum entanglement), trong đó hai quang tử (photon) được tạo ra cùng lúc có liên hệ rất kỳ lạ với nhau. Thật vậy, nếu hai photon được tạo ra đồng thời và được đặt ở hai vị trí khác nhau, chúng sẽ không tồn tại một cách biệt lập riêng rẽ, mà ngược lại, luôn có mối ràng buộc chặt chẽ với nhau - trạng thái của photon này quyết định trạng thái của photon kia. Nếu ta buộc photon này tuân theo một trạng thái lượng tử nào đó, thì photon kia cũng lập tức có ngay một trạng thái lượng tử tương ứng. Nói cách khác, nếu biết trạng thái của photon này, thì lập tức ta sẽ biết trạng thái của photon kia. Điều đó có nghĩa là, giữa hai photon tồn tại một quan hệ tương tác nào đó. Tương tác này không phải là một trong 4 tương tác đã biết (hấp dẫn, điện từ, hạt nhân yếu, hạt nhân mạnh). Vậy nó là tương tác gì ? Đến nay, vẫn chưa ai đưa ra được một khái niệm chính xác. Albert Einstein từng gọi đó là "tương tác ma quái" (spooky interaction). Tờ Guardian của Anh số ra ngày 18/6/2002 bình luận: "Hiện tượng này còn bí hiểm hơn cả chính sự tồn tại của vũ trụ". Đa số các nhà vật lý hiện nay "đành" giải thích điều bí hiểm này như một biểu hiện của thế giới lượng tử mà nguyên lý bất định của Heisenberg đã chỉ rõ.

Bạn có thể hình dung ra nguyên lý bất định này trong ví dụ sau: Giả sử, nếu biết lực tác dụng vào quả bóng trong cú sút phạt của Ronaldinho trong trận Brazil - Anh vừa qua ở World Cup, thì cơ học Newton có thể giúp thủ môn Seaman tính chính xác quả bóng đó sẽ bay ra sao và sẽ rơi vào đâu. Đó là vì trong thế giới vĩ mô, quan hệ nhân - quả là chìa khóa giúp giải thích rõ ràng mọi hiện tượng. Nhưng trong thế giới của các "quả bóng vi mô" (thế giới của các hạt hạ nguyên tử) thì quan hệ nhân - quả hoàn toàn sụp đổ. Các hạt cơ bản hoàn toàn bất định. Tính chất này biểu hiện theo nhiều cách khác nhau, một trong những biểu hiện đó chính là hiện tượng "vướng lượng tử": Một hạt cơ bản có thể cùng một lúc tồn tại ở hai vị trí khác nhau mà giác quan thông thường của chúng ta coi là hai hạt khác nhau.

Những năm gần đây đang dấy lên một làn sóng vật lý đi tìm những biểu hiện bất định của các hạt cơ bản. Năm 1995, một nhóm vật lý ở Colorado đã làm lạnh vật chất xuống tới -273 độ C (gần 0 độ tuyệt đối), trong điều kiện đó các nguyên tử "ứng xử" giống hệt nhau và tạo thành một "đại nguyên tử". Năm 2001, một nhà vật lý Đan Mạch đã làm chậm ánh sáng đến mức như đứng lại, giữ được nó trong một khoảnh khắc, rồi lại "thả" nó ra để cho nó trở lại chuyển động với tốc độ ánh sáng. Nhưng kỳ quái nhất vẫn là hiện tượng "bất định vị" (nonlocality) của các hạt hạ nguyên tử, tức hiện tượng một hạt có thể xuất hiện cùng một lúc ở hai vị trí khác nhau nói trên. Một bộ óc kỳ lạ như Einstein cũng đành phải mô tả nó như là "tác động ma quỷ từ xa" (ghostly action at a distance), thay vì đưa ra một giải thích theo một công thức toán học nhân - quả.

Nhưng nhờ thái độ chấp nhận "tương tác ma quỷ" như là một biểu hiện của nguyên lý bất định nên các nhà vật lý đã hướng mục tiêu nghiên cứu vào ứng dụng tương tác đó. Người đi tiên phong theo hướng này là giáo sư Athon Zeilinger (Áo). Năm 1997, lần đầu tiên ông đã nêu lên ý kiến cho rằng do tính chất đồng thời tồn tại tại nhiều vị trí khác nhau nên các hạt ánh sáng có thể được "vận chuyển tức thời" qua những khoảng cách lớn trong không gian. Ngay lập tức 40 phòng thí nghiệm trên thế giới đã bắt tay vào nghiên cứu nhằm biến ý tưởng của Zeilinger thành hiện thực. Thí nghiệm của ANU là một trong số đó, và đây là lần đầu tiên thực hiện được việc chuyển thông tin tức thời qua khoảng cách không gian 1 m, trong đó hai chùm sáng laser thực chất chỉ là một, nhưng đồng thời tồn tại ở hai vị trí khác nhau!

Tiến sĩ Lam nói: "Về lý thuyết, không có gì ngăn trở con người di chuyển tức thời trong không gian, nhưng vào thời điểm hiện nay, đó vẫn là chuyện viễn tưởng. Tuy nhiên trong tương lai không xa, việc vận chuyển tức thời một vật rắn có thể trở thành hiện thực. Tôi dự đoán trong vòng từ 3 đến 5 năm nữa khoa học sẽ có thể vận chuyển tức thời một nguyên tử".



"CÁI CHẾT CỦA NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH"

Đó là đề bài báo của Mark Buchanan đăng trên tạp chí khoa học uy tín nhất của Anh - Australia, số mới ra ngày 6 thángNew Scientist, tuần san 3 năm 1999, đang gây xôn xao dư luận giới khoa học trên toàn thế giới. Bài báo công bố thí nghiệm của một nhóm nhà khoa học Đức cho thấy Nguyên lý bất định của Heisenberg, một trong hai nền tảng của vật lý hiện đại có nguy cơ sụp đổ. Sau khi nhắc lại cuộc tranh luận lịch sử giữa Einstein và Bohr về nguyên lý này (Einstein chống đối quyết liệt, Bohr bảo vệ), bài báo cho biết:
Bohr và Einstein đã phải đưa ra những thí nghiệm tưởng tượng để chứng minh lý thuyết của họ, vì công nghệ hồi đó chưa cho phép làm một thí nghiệm thật. Nhưng tình hình ngày nay đã thay đổi. Với kỹ thuật laser, Gerhard Rempe và các cộng sự của ông tại Đại học Konstanz ở Đức đã thực hiện một trong các thí nghiệm nổi tiếng mà những "người khổng lồ" của lý thuyết lượng tử đã tranh cãi - đó là thí nghiệm quen thuộc, thường được gọi là "thí nghiệm hai khe" (two-slit experiment). Phương pháp thí nghiệm mới được đề xuất vào năm 1991 bởi MarLan Scully, Berthold - Georg Englert và Herbert Walther tại Học viện quang lượng tử Max Planck ở Garching, Đức, với việc chọn hạt lượng tử là nguyên tử, vì nó dễ để lại dấu vết hơn. Nhiều năm trước đây, người ta cũng đã từng làm thí nghiệm này nhưng với điều kiện thô sơ hơn, do đó không phát hiện thấy giao thoa, điều này làm cho người ta tin rằng Nguyên lý bất định hoàn toàn đúng. Nhưng khi Rempe và các cộng sự báo cáo kết quả thí nghiệm của họ vào tháng 9 năm ngoái, các nhà vật lý đã thực sự lo lắng. Bài báo viết: "Kết quả của họ chứng tỏ rằng lập luận của Bohr dựa trên một sự nhầm lẫn". Bài báo cho biết là trong bao nhiêu năm qua các nhà vật lý đã không hề hay biết rằng có một lý thuyết quan trọng nhất, đó là thuyết rối lượng tử (quantum entanglement). Hiện tượng không thấy dấu vết giao thoa thực ra là quy luật rối lượng tử - một đặc trưng của thế giới lượng tử - chứ không phải là yếu tố quyết định.
Về mặt lý thuyết, bài báo nhắc tới quan điểm của nhà vật lý Yu Shi tại Đại học Cambridge phê phán rằng Bohr chỉ dựa trên những quan hệ đơn giản Planck và De Broglie. Shi đã phân tích lại các thí nghiệm tưởng tượng, sử dụng các phương trình chính xác của lý thuyết lượng tử từ mô tả đầy đủ nhất khả năng của một hạt lượng tử. và ông nhận thấy rằng bất chấp mọi điều Bohr đã nói, Nguyên lý bất định chẳng liên quan gì tới sự huỷ giao thoa sóng. Shi nó: "Mọi người nghĩ rằng Bohr đúng, Einstein sai, nhưng điều này còn xa sự thật lắm… Hãy quên mọi quan niệm mập mờ về bất định đi mà hãy nghĩ tới khái niệm chính xác hơn, đó là quy luật rối lượng tử". Và Mark Buchanan kêu lên: "Hãy vẫy chào tạm biệt Nguyên lý bất định, bạn không còn cần đến nó nữa. Hãy chào tạm biệt Thuyết rối loạn lượng tử". Cuối cùng Buchanan dùng ý tưởng của Bohr "trái ngược nhưng không phải là mâu thuẫn" để kết, hàm ý rằng đã đến lúc làm một tư tưởng trái ngược với Bohr mới là chân lý!
Nếu thí nghiệm của Rempe là đúng thì đây là cuộc "cách mạng lại" khoa học vật lý nói riêng và vũ trụ quan nói chung. Rõ ràng đây là điều không thể tưởng tượng vì hơn 70 năm qua, Nguyên lý Bất định của Heisendberg đã đi vào lịch sử như một chân lý tổng quát của tự nhiên, ngang tầm cỡ với thuyết tương đối của Einstein. Nhiều nhà khoa học đang tìm cách khắc phục yếu tố bất định bằng con đường kết hợp nó với Thuyết tương đối, mặc dù Stephen Hawking đã cảnh cáo rằng đó là hai cực đối lập không tương thích với nhau. Tất cả những phương hướng nghiên cứu này kể cả những công trình vừa mới công bố vào cuối năm 1998 đầu năm 1999, đều coi Nguyên lý bất định như là một cực của chân lý. Chỉ có trường phái Thuyết rối loạn lượng tử mới phủ định Nguyên lý bất định. Phải chăng trường phái này được thúc đẩy bởi niềm tin mạnh mẽ của chính Einstein, và vô tình họ đã chứng minh rằng Einstein mới thực sự là thiên tài? Mọi kết luận vội vã lúc này đều thiếu nghiêm túc. Hãy chờ xem, và có lẽ tốt hơn, hãy cùng nghiên cứu xem. Tuy nhiên dù sự thật có thế nào đi chăng nữa thì dường như những thách thức thú vị đang lấp ló ở cánh cửa của thế kỷ 21.

Thứ Năm, ngày 05 tháng 2 năm 2015

Lightworkers là gì và các đặc tính tâm linh của Lightworkers

Lightworkers là gì và các đặc tính tâm linh của Lightworkers

1 - Từ rất sớm trong cuộc sống của họ, họ cảm thấy họ là khác với mọi người xung quanh. Khi lớn lên, họ thường xuyên cảm thấy bị cô lập từ những người khác. Họ thường cảm thấy cô đơn và bị hiểu lầm. Họ thường bị gán ghép là chủ nghĩa cá nhân, cao ngạo hay quá tách biệt ... Lightworkers thường phải vật lộn để dung hòa những tính cách độc đáo của riêng mình vào trong cuộc sống.

2 - Lightworkers thường gặp khó khăn khi cảm thấy phải làm những việc chán ngắt và đơn điệu ở nhà. Họ không thích làm những công việc truyền thống mang tính lặp đi lặp lại. Họ không thích làm việc trong những cơ cấu tổ chức cứng nhắc.

Thứ Ba, ngày 03 tháng 2 năm 2015

Thần thông và phương tiện hiện đại

                       

Thần thông diệu dụng là những giá trị lợi ích đặc thù của người tu tập theo những pháp môn nhất định. Ngày xưa, Đức Phật và những vị thánh đệ tử của Ngài đều có được sáu loại thần thông, gọi là Lục thông.
Những nhà ngoại đạo tu tiên cũng có thể đạt tới năm loại thần thông trong số sáu thần thông mà Phật đã chứng đắc, gọi là Ngũ thông. Tuy chỉ có năm hay sáu thần thông, nhưng kỳ thực, những thần thông ấy có vô số diệu dụng không thể nghĩ bàn.
Về sáu loại thần thông của Phật pháp gồm có:
1.Thiên nhãn thông, là năng lực nhìn không bị chướng ngại, không bị giới hạn bởi không gian, không bị giới hạn bởi kích thước của vật thể, có khả năng thấy được những sự vật hiện tượng mà mắt thường không thể nhìn thấy được.
2.Thiên nhĩ thông, là năng lực nghe không bị chướng ngại, không bị giới hạn bởi không gian và cường độ của âm thanh, có thể nghe được những âm thanh mà khả năng con người không nghe thấy được;
3.Tha tâm thông, là năng lực hiểu được suy nghĩ người khác;
4.Thần túc thông, là năng lực tới lui vô ngại, có thể bay trên không trung, du hành dưới nước, đi trong lòng đất, xuyên qua núi non, biến hóa ra thiên hình vạn trạng…;
5.Túc mạng thông, là năng lực thấy rõ quá khứ nhiều đời nhiều kiếp; và
6.Lậu tận thông, là năng lực siêu xuất Tam giới, tự tại giải thoát, không bị khổ đau chi phối, hiểu rõ bản chất của đời sống, quy luật của vũ trụ…
image
Tuy nhiên, thần thông cũng có những giới hạn nhất định. Đức Phật không khuyến khích các đệ tử tu luyện thần thông; đôi khi, Ngài còn khiển trách những ai tùy tiện sử dụng thần thông khi không cần thiết. Thần thông là kết quả tự nhiên sau một quá trình dụng công tu tập, nhưng thần công, trừ Lậu tận thông, không đưa ai an lạc giải thoát. Có được năm thần thông trước là có những khả năng phi thường mà con người bình thường không có được; nhưng nếu còn vô minh thì vẫn bị phiền não tác động và vẫn còn khổ đau, vẫn còn luân hồi trong sinh tử. Chỉ có trí tuệ mới giúp con người thoát khỏi phiền não khổ đau; vì thế, cần phải tu tập để giác ngộ, khổ, tu tập vì sự nghiệp trí tuệ. Trong quá trình tu tập, đôi khi thần thông gây trở ngại cho sự giác ngộ giải thoát; và nếu không khéo tu tập mà còn tham đắm chấp trước thì thần thông trở thành một trong những pháp chướng đạo. Trong những loại thần thông kể trên thì Lậu tận thông là thần thông cao bậc; chỉ có Phật và các bậc Thánh đã chứng A-la-hán quả mới đạt được. Và đây chính là thần thông cần thiết cho người cầu giác ngộ, giải thoát.
Có lần một tu sĩ ngoại đạo biểu diển thần thông đi trên mặt nước và thách thức Đức Phật thi triển thần thông như ông ta. Đức Phật ôn tồn hỏi, “Ông tu luyện bao lâu mới có được thần thông ấy?”.Vị tu sĩ ngoại đạo kiêu hãnh trã lời, “Mất ba mươi năm”. Đức Phật mỉm cười, “Ta chỉ cần có ba xu tiền đi đò là có thể qua được bờ bên kia”.
Đức Phật dạy các đệ tử, nên dùng “Giáo hóa thần thông”, nghĩa là lấy thần giáo và khẩu giáo, lấy hành động làm tấm gương sáng về đạo đức và những lời thuyết pháp, để hóa chúng sinh, mà không nên dùng các loại thần thông khác; vì chỉ có Giáo hóa thần thông mới đưa đến con đường an lạc giải thoát. Năm loại thần thông đầu, gồm Thiên nhãn thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhĩ thông, Thần túc thông, thường mê hoặc con người, khiến cho con người chấp trước, tham cầu, mê đắm và dễ sa chân vào con đường bất chánh. Đặc biệt, những kẻ còn  vô minh, bị dẫn dắt bởi nghiệp lực và phiền não lậu hoặc, sẽ sử dụng thần thông phục vụ mục đích xấu. Trong lịch sử, chỉ một số rất ít trường hợp Đức Phật cho phép sử dụng thần thông, đó là khi nào phải đối phó với ngoại đạo có sử dụng thần thông; ví dụ như trường hợp Đức đạo có sử dụng thần thông hàng phục ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (Uruvela Kassapa) và con độc long. Nhưng sau đó, Đức Phật chỉ dùng Giáo hóa thần thông để độ họ.
Ngày nay, những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng giống như phép màu mang lại cho con người những điều kỳ diệu. Ngồi một chổ không cần phải đi đâu, con người cũng có thể nhìn thấy hình ảnh, nghe được âm thanh khắp nơi trên thế giới, có thể giao tiếp với nhau dù đang ở hai nơi xa xôi bất kỳ trên trái đất. Con người có thể bay lên không trung, bay vào vũ trụ, đi trong lòng đất, du hành dưới đáy biển, trong lòng đại dương. Con người không phải mất nhiều thời gian để đi lại từ nơi này đến nơi khác… Tuy nhiên, cũng như thần thông không mang lại giá trị an lạc hạnh phúc, giải thoát những khổ đau khi con người còn chưa dứt trừ vô mình, còn bị lôi kéo bởi phiền não lậu hoặc; những phương tiện hiện đại, những tiện nghi của đời sống cũng không mang lại hạnh phúc cho con người khi con người còn quá nhiều ham muốn, dục vọng, còn sân hận si mê… nói chung là vô minh phiền não lậu hoặc. Hễ còn vô mình phiền não lậu hoặc thì vẫn còn khổ đau. Với ngã ái, chấp thủ, càng đạt được nhiều thành tựu trong khoa học, trong đời sống, con người càng kiêu căng tự phụ, bản ngã càng to lớn, và những thành tựu đó vô tình nuôi dưỡng, thúc đẩy tham vọng của con người ngày một phát triền thêm. Con người luôn muốn thỏa mãn cái tôi ích kỷ, thỏa mãn tham vọng mà tự tao cái khổ cho mình và cho chúng sinh khác. Chưa bao giờ thế giới vắng bóng chiến tranh, chưa bao giờ có một nên hòa bình toàn cầu; con người luôn sống trong mâu thuẫn, xung đột, luôn sống trong hận thù nghi kỵ; luôn mang tham vọng bành trướng; luôn tìm cách chiếm đoạt, sở hữu để dung dưỡng cái tôi ích kỷ; con người luôn bị dẫn dắt bởi ngã và ngã sở, tôi và cái của tôi, bản thân tôi, gia đình tôi, tài sản tôi, sự nghiệp tôi, dân tộc tôi, quốc gia tôi, quan điểm của tôi, học thuyết của tôi, chủ nghĩa của tôi…
Con người say mê những thành tựu khoa học kỹ thuật và sử dụng chúng để phục vụ cho bản ngã, phục vụ cho những tham muốn, dục vọng của mình, và từ đó, con người hủy hoại hạnh phúc của mình và của nhân loại. Hoàn cảnh thế giới hiên tại  đã chứng minh điều đó. Nhân loại luôn sống trong bất an, lo sợ, luôn phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng; sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tình trạng ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, thiếu lương thực, nước uống, chiến tranh thế giới, nguy cơ bị hủy diệt vì hạt nhân…đang là những nỗi ám ảnh thường trực của loài người.
Con người quay cuồng với đời sống vật dục, say mê với các tiện nghi vật chất đến độ không biết đường đi lối về; mải chạy kiếm tìm những thứ có thể phục vụ cho ham muốn, dục vọng không tận cùng của mình; nhưng kết quả như người khác uống nước mặn không thể giải khát mà càng khát hơn; con người càng đắm chìm trong phiền não, khổ đau không cùng tận. Hàng ngày, những thông tin quảng cáo khơi gợi lòng ham muốn hưởng thụ, kích thích đam mê, khiến cho người ta không thể đánh giá đâu là nhu cầu thực sự, cứ mãi chạy theo lối sống đua đòi. Sự thúc dục phải kiếm cho được nhiều tiền để thỏa mãn những nhu cầu ảo, những tham muốn thụ hưởng, đã khiến cho con người lao tâm khổ trí, vất vả tấm thân, và tạo nên nhiều tội nghiệp. Đời sống quay cuồng khiến cho con người khổ não bất an trên nhiều phương tiện vật chất, càng nhiều tiện nghi trong sinh hoạt, đời sống con người sẽ có được sự thoải mái cả về vật chất lẫn tinh thần, mang lại niềm vui và hạnh phúc. Con người không thấy rằng chính những tham vọng vật chất đó đã làm con người đã bị trói buộc lại càng bị trói buộc hơn, niềm vui và hạnh phúc ngày càng xa vời hơn.
Vấn đề chỗ này có nhiều hay ít phương tiện vật chất thì đời sống con người có hạnh phúc hơn. Vấn đề là thái độ sống của con người như thế nào, con người làm chủ hay bị lệ thuộc vào nhưng phương tiện và tiện nghi đó; con người có biết cách ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật, những phương tiện vật chất, những tiện nghi của đời sống hiện đại vào mục đích mang lại an lạc, hạnh phúc cho mình hay không? Đó mới là điều quan trọng.